Thực thi dân quyền

Nâng cao dân trí - Chân hưng dân khí

Cải thiện dân sinh-Xây dựng dân chủ

Nền tảng chính trị, Xu hướng mới

Liệu Mỹ có còn an toàn cho Dân chủ?

 

Lý do tại sao Hiệp Chúng Quốc có nguy cơ rơi vào thoái trào dân chủ

 

Robert Micky, Steven Levitsky, và Lucan Ahmad Way

Foreign Affairs, May-June, 2017

Trần Ngọc Cư dịch

 

“Chính quyền của Tổng thống Trump đã chọc thủng niềm tin tưởng của nhiều người Mỹ về tính ưu việt của nước họ. Nền dân chủ Mỹ không miễn nhiễm đối với tình trạng thoái trào [trở lại thời kỳ thiếu dân chủ tại miền Nam trước thập niên 1970.] Trên thực tế, dân chủ Mỹ đang đối diện một thách thức vượt quá thời đại Trump: đó là duy trì một nền dân chủ đa chủng [multiracial democracy] được khai sinh cách nay nửa thế kỷ. Ít có nền dân chủ nào tồn tại qua những thời kỳ quá độ trong đó các nhóm chủng tộc giữ ưu thế trong lịch sử mất địa vị đa số của mình. Nếu dân chủ Mỹ có thể làm được điều này, nó sẽ chứng minh được tính ưu việt của mình trên thực tế.”

 

Robert Micky là Phó Giáo sư Chính trị học tại Đại học Michigan và là tác giả cuốn Paths Out of Dixie: The Democratization of Authorization Enclaves in America’s Deep South, 1944-1972]

 

Steven Levitsky là Giáo sư Chính phủ học tại Đại học Harvard.

 

Lucan Ahmad Way là Giáo sư Chính trị học tại Đại học Toronto và là đồng tác giả, với Levitsky, cuốn Competitive Authoritarianism: Hybrid Regimes After the Cold War.

 

 

 

Việc đắc cử Tổng thống Mỹ của Donald Trump–một người từng ca ngợi các nhà độc tài, khuyến khích bạo động trước đám cử tri hậu thuẫn ông, đe dọa bỏ tù đối thủ chính trị, và chụp mũ giới truyền thông chính mạch [mainstream media] là “kẻ thù”—đã gia tăng nỗi sợ hãi rằng Hoa Kỳ có thể đang tiến tới chủ nghĩa độc tài. Mặc dù các tiên đoán về một tình trạng tuột dốc dân chủ để rơi tỏm vào chủ nghĩa phác-xit là thổi phồng quá đáng, nhưng triều đại của Tổng thống Trump có thể đẩy Hiệp Chúng Quốc vào một dạng thức nhẹ của cái mà chúng ta gọi là “thể chế độc tài có cạnh tranh” [competitive authoritarianism]– một chế độ trong đó các thiết chế dân chủ quan trọng vẫn tồn tại nhưng Chính phủ lạm dụng quyền lực Nhà nước để đưa các đối thủ của mình vào thế bất lợi.

Song những thách đố đối với thể chế dân chủ Mỹ đã xuất hiện qua nhiều thập niên trước khi Trump bước vào sân khấu chính trị khá lâu. Kể từ thập niên 1980, sự phân cực ngày càng sâu sắc của chính trị Mỹ cùng với tiến trình cực đoan hóa Đảng Cộng hòa đã làm suy yếu các nền tảng định chế vốn từng gìn giữ thể chế dân chủ Mỹ qua một thời gian lâu dài — khiến cho một chế độ Tổng thống kiểu Trump ngày nay trở nên nguy hiểm hơn nhiều so với trường hợp nó ở vào những thập niên trước đây.

 

Nghịch lý là, động cơ phân cực hóa chính trị Mỹ đang đe dọa thể chế dân chủ hiện nay, có gốc rễ từ tiến trình dân chủ hóa muộn màng của Hiệp Chúng Quốc. Mãi đến đầu thập niên 1970 – khi phong trào dân quyền và Chính phủ liên bang bài trừ được chủ nghĩa độc tài tại các tiểu bang miền Nam — nước Mỹ mới thật sự trở nên dân chủ. Tuy nhiên, tiến trình này cũng góp phần tạo ra sự chia rẽ trong Quốc hội, liên kết cử tri lại với nhau theo ranh giới chủng tộc và đẩy Đảng Cộng hòa khuynh hữu thêm nữa. Hệ quả của sự phân cực này vừa giúp Trump trỗi dậy vừa khiến các định chế dân chủ trở nên yếu kém trước hành vi độc tài của ông.

 

Các biện pháp an toàn cho thể chế dân chủ có lẽ không xuất phát từ những nơi người ta có thể kỳ vọng. Cam kết của xã hội Mỹ đối với thể chế dân chủ không đảm bảo ngăn chặn được việc quay lại tình trạng thiếu dân chủ trước đây; cả những biện pháp hiến định nhằm kiểm soát và quân bình quyền lực giữa các ngành của Chính phủ, lẫn bộ máy thư lại hoặc báo chí tự do cũng không làm được việc này. Rốt cuộc, có thể chính khả năng huy động hậu thuẫn quần chúng của Trump — khả năng này bị hạn chế nếu chính quyền ông hoạt động tồi tệ, song to lớn hơn nếu có chiến tranh hay một cuộc tấn công khủng bố nghiêm trọng — sẽ định đoạt số phần của thể chế dân chủ Mỹ.

 

THẾ NÀO LÀ TRỞ VỀ TÌNH TRẠNG MẤT DÂN CHỦ

 

Nếu có một cuộc suy thoái dân chủ sẽ diễn ra tại Hiệp Chúng Quốc, nó không mang dạng thức một cuộc đảo chính; do đó sẽ không có tuyên bố thiết quân luật hay áp đặt chế độ độc đảng. Nói cho ngay, trải nghiệm của hầu hết các chế độ độc tài đương đại cho thấy rằng tình trạng thoái trào dân chủ sẽ diễn ra qua một loạt gồm những bước gia tăng nhỏ bé, ít ai nhận thấy, hầu hết là hợp pháp và nhiều bước có vẻ không quan trọng. Nhưng tập hợp lại, những bước chuyển biến này sẽ làm nghiêng sân chơi về phía có lợi cho đảng cầm quyền.

 

Sự dễ dàng cũng như mức độ mà các Chính phủ có thể đạt được điều này thay đổi tùy theo từng nơi. Ở đâu mà các định chế dân chủ và chế độ pháp trị có nền móng vững chắc và các lực lượng công dân cũng như đối lập vững mạnh, như tại Hiệp Chúng Quốc chẳng hạn, nạn lạm quyền vừa khó thực hiện vừa ít nghiêm trọng hơn tại các nước như Nga, Turkey, và Venezuela. Tuy nhiên, nạn lạm quyền đã từng diễn ra tại Hiệp Chúng Quốc trong quá khứ gần đây, do đó chúng ta không thể loại trừ khả năng này.

 

Loại lạm quyền đầu tiên là chính trị hóa các định chế Nhà nước và sử dụng chúng để chống lại đối lập. Các Nhà nước hiện đại sở hữu một loạt cơ quan khác nhau để điều tra và trừng phạt các sai phạm của công chức và tư nhân – như các tòa án; các công tố viên; các ủy ban giám sát của Quốc hội; các cơ quan thi hành luật pháp, tình báo, thuế vụ, và điều tiết kinh tế hoặc môi trường. Vì những cơ quan này được thiết kế để làm chức năng đứng giữa trọng tài, chúng vừa là một thách thức vừa là một cơ hội cho những kẻ có tham vọng độc tài. Bao lâu mà các cơ quan điều tra vẫn còn độc lập, chúng có thể vạch trần và trừng phạt nạn lạm quyền của Chính phủ. Tuy nhiên, nếu bị các phần tử trung thành với Chính phủ kiểm soát, chúng có thể bao che các sai trái của chính quyền và được sử dụng như một loại vũ khí rất hữu hiệu để chống lại các đối thủ của Chính phủ.

 

Như vậy các nhà độc tài dân cử được khuyến khích mạnh mẽ trong việc thanh trừng các công chức chuyên nghiệp và các viên chức có đầu óc độc lập, rồi thay thế họ bằng đảng viên của mình. Các cơ quan không dễ bị thanh trừng, như ngành tư pháp có thể bị chính trị hóa bằng nhiều cách khác. Các chánh án, chẳng hạn, có thể bị hối lộ, bị bắt nạt, hoặc bị hăm dọa buộc phải phục tòng, nếu không họ có thể bị công khai bôi bẩn là bất lực, tham nhũng, hoặc không yêu nước. Trong các trường hợp cực đoan, họ có thể là đối tượng để đem ra xử tội trong lúc tại chức [impeachment].

 

Thao túng các cơ quan Nhà nước bằng cách cài đặt chúng bằng đảng viên của mình chẳng khác chi mua đứt trọng tài trong một trận đấu thể thao: không những đội nhà có thể tránh các cú phạt đền mà còn ép địch thủ chịu thêm nhiều cú phạt. Một trong những hậu quả là, Chính phủ có thể tránh được các cuộc điều tra, các vụ kiện, và các cáo buộc hình sự, và do đó Chính phủ có thể được bảo đảm rằng các hành động vi hiến của mình sẽ không bị chặn đứng. Một hậu quả khác là, Chính phủ có thể tùy tiện thi hành luật pháp, chỉ đặt vào tầm ngắm của mình các nhà chính tri, các doanh nghiệp và các hãng truyền thông đối lập trong khi để yên cho các đồng minh của mình (hoặc những thành phần chịu im miệng). Vlamidir Putin, chẳng hạn, đã thẳng tay loại trừ hầu hết địch thủ của mình sau khi trở thành Tổng thống Nga bằng cách truy tố họ ra tòa về tội tham nhũng trong khi nhắm mắt làm ngơ trước hành vi tương tự của các đồng minh.

 

Đồng thời, một lực lượng cảnh sát được chính trị hóa, có thể được Chính phủ tin dùng để đàn áp các người biểu tình chống đối trong khi dung túng các hành vi bạo động của bọn côn đồ thân Chính phủ — một chiến thuật tỏ ra hữu hiệu tại Venezuela. Về phần mình, các cơ quan tình báo được chính trị hóa có thể được sử dụng để theo dõi những người chỉ trích Chính phủ và đào xới tư liệu để gây sức ép. Lãnh tụ đối lập hàng đầu của Chính phủ Malaysia, ông Anwar Ibrahim, bị cho ra rìa bằng cách này: sau một cuộc điều tra rất đáng nghi ngờ của cảnh sát, ông bị kết tội kê gian [sodomy / làm tình với một nam trợ lý] năm 1999 và bị đưa vào tù. Chắc chắn là, ngay cả bộ máy hành chính tại các nước dân chủ cũng dễ bị chính trị hóa, nhưng tình trạng này thường được hạn chế và bị trừng phạt khi trở nên quá tồi tệ. Trái lại, trong các chế độ độc tài có cạnh tranh, tình trạng chính trị hóa có tính hệ thống và nghiêm trọng.

 

Cách thứ hai các nhà độc tài dân cử có thể làm nghiêng lệch sân chơi là bằng cách vô hiệu hóa các bộ phận then chốt của xã hội dân sự. Ít có chế độ độc tài đương đại nào tìm cách tiêu diệt đối lập ngay lập tức. Nói đúng ra, các chế độ này có âm mưu chiêu dụ, bóp nghẹt hoặc gây khập khễnh cho các nhóm có khả năng vận động đối lập: các hãng truyền thông, các lãnh đạo doanh nghiệp, các công đoàn, hội đoàn tôn giáo, vân vân. Con đường dễ nhất là mua chuộc. Bằng cách này, gần như mọi Chính phủ độc tài cống hiến bổng lộc hoặc trực tiếp hối lộ các nhân vật lãnh đạo truyền thông, doanh nghiệp, và tôn giáo. Các báo đài thân hữu được ưu tiên tiếp cận chính quyền; các lãnh đạo doanh nghiệp ưu đãi được nhượng bộ những nguồn lực béo bở hoặc nhận được các hợp đồng Chính phủ. Để đối phó những người chống đối, các nhà độc tài vận dụng các cơ quan chức năng được chính trị hóa. Các mạng lưới báo đài và website nào tố cáo việc làm sai trái của Chính phủ đều phải đối diện những vụ kiện vu khống và phỉ báng hoặc bị truy tố vì công bố tài liệu được cho là cổ vũ bạo động hoặc đe dọa an ninh quốc gia. Các lãnh đạo doanh nghiệp dám chỉ trích Chính phủ thường bị điều tra về gian lận thuế má hoặc các vi phạm khác, đồng thời các nhà chính tri đối lập thường bị lún sâu vào các vụ tai tiếng do các cơ quan tình báo đào xới hoặc chỉ việc bịa đặt ra.

 

Sự sách nhiễu kéo dài theo kiểu này có thể làm suy yếu phe đối lập một cách nghiêm trọng. Báo chí có thể vẫn còn độc lập trên danh nghĩa nhưng phải âm thầm tự kiểm duyệt, như tại Turkey và Venezuela. Giới doanh nghiệp có thể rút khỏi chính trường thay vì gặp rủi ro đối đầu với các cơ quan thuế vụ hay điều tiết kinh tế của Chính phủ, như thường xảy ra tại Nga. Qua thời gian, các bài chỉ trích Chính phủ trên báo đài sẽ giảm dần, và cùng với việc các doanh nghiệp hàng đầu và các công đoàn không còn dám sinh hoạt chính trị nữa, các đảng đối lập gặp khó khăn hơn nữa trong việc gây quĩ, khiến họ gặp một bất lợi đáng kể.

 

Cuối cùng, các nhà độc tài dân cử thường viết lại luật chơi chính trị — cải tổ hiến pháp, hệ thống tuyển cử, hoặc các định chế khác — khiến các đối thủ chính trị khó cạnh tranh hơn. Những cải tổ này thường được biện minh trên cơ sở bài trừ tham nhũng, trong sạch hóa các cơ quan tuyển cử, hoặc củng cố dân chủ, song mục đích thực sự là đen tối hơn. Tại Ecuador, chẳng hạn, một cuộc cải tổ luật tuyển cử do Chính phủ của Tổng thống Rafael Correa thông qua năm 2012 đã hạn chế gắt gao các đóng góp vận động tranh cử của tư nhân, bề ngoài nói là để giảm bớt ảnh hưởng thối nát của đồng tiền trong chính trị. Nhưng trên thực tế, cuộc cải tổ này đã làm lợi cho đảng cầm quyền của Correa, mà sự tiếp cận các nguồn lực của Chính phủ không bị kiểm soát đã mang lại một lợi thế to lớn cho họ.

 

Tại Malaysia cũng như tại Zimbabwe, Chính phủ viện dẫn mục đích phân quyền cho các địa phương để biện minh cho những cải tổ nhằm gia tăng phiếu bầu của các vùng nông thôn dân cư thưa thớt, gây bất lợi cho các trung tâm thành phố, nơi phe đối lập tỏ ra có lợi thế nhất. Các cải tổ định chế loại này là đặc biệt nguy hiểm vì chúng duy trì một bộ mặt hợp pháp ở bên ngoài. Tuy nhiên, chúng làm nghiêng lệch các kết quả bầu cử một cách có hệ thống và, trong nhiều trường hợp, cho phép người đang tại chức bám chặt vào các lợi thế tạo được nhờ lạm dụng quyền hành từ ban đầu.

 

MỘT NỀN DÂN CHỦ NON TRẺ

 

Người ta có thể sa vào cám dỗ để tin rằng nền dân chủ kéo dài hàng thế kỷ của Hiệp Chúng quốc là không thể bị thẩm thấu bởi hiện tượng xoái mòn dân chủ [democratic erosion], nhưng sự tin tưởng này không được đặt đúng chỗ. Trên thực tế, thể chế dân chủ tự do bình đẳng [liberal democracy] – với đầy đủ quyền bầu cử của người trưởng thành và sự bảo vệ rộng rãi các quyền dân sự và chính trị — là một phát triển tương đối gần đây tại Hiệp Chúng Quốc. Theo các tiêu chuẩn đương đại, nước Mỹ mới chỉ hoàn toàn dân chủ trong thập niên 1970.

 

Bắt đầu từ những năm 1890, sau Nội chiến và sự thất bại của thời kỳ Tái thiết [Reconstruction], các nhà chính tri Đảng Dân chủ tại mỗi một trong số 11 bang của Liên minh Miền Nam cũ đã xây dựng được các lãnh địa độc tài độc đảng nằm ngay trong nước Mỹ [single-party, authoritarian enclaves]. Sau khi giành được một số địa vị để điều động quyền lực từ Tối cao Pháp viện, ngành lập pháp, và Đảng Dân chủ quốc gia, các đảng viên Dân chủ bảo thủ [Miền Nam] đã tước đoạt quyền bầu cử của người da đen và nhiều cử tri da trắng nghèo, đàn áp các đảng đối lập, và áp đặt các khu vực công dân [civic spheres] phân chủng—và mất tự do đáng kể. Mục đích của giớ chính trị gia này là đảm bảo lao động nông nghiệp rẻ và địa vị độc tôn của người da trắng [white supremacy], do đó họ sử dụng bạo lực do tiểu bang bảo trợ [state-sponsored violence] để đạt được mục tiêu.

 

Suốt nửa thế kỷ, các bang miền Nam tận dụng ảnh hưởng của mình tại Quốc hội và Đảng Dân chủ quốc gia để che chắn cho mình tránh khỏi các nỗ lực cải tổ đến từ bên ngoài. Tuy vậy, năm 1944, Tối cao Pháp viện Mỹ đã bãi bỏ các cuộc bầu cử sơ bộ dành riêng cho người da trắng [white-only Democratic primaries] của Đảng Dân chủ tại miền Nam. Kể từ quyết định đó, các nhà tranh đấu da đen đã thúc đẩy và tận dụng các phán quyết của tòa án liên bang, các luật Quốc hội, và các cải tổ đảng phái quốc gia để triệt hạ âm mưu tước đoạt quyền bầu cử của người da đen, chế độ phân chủng tại các phương tiện công cộng [segregation], và các hành vi đàn áp của tiểu bang [state repression]. Mãi đến đầu thập niên 1970, các nhà độc tài miền Nam mới thật sự bị đánh bại; ngày nay có khoảng 6.000 viên chức dân cử đang phục vụ tại các đơn vị cử tri miền Nam.

 

Nhưng chủ nghĩa độc tài Mỹ không chỉ là một hiện tượng miền Nam. Kể từ thời thành lập FBI, CIA, và Cơ quan An ninh Quốc gia [National Security Agency], các Tổng thống Mỹ thường sử dụng chúng để theo dõi nhân viên Nhà Trắng, các nhà báo, các đối thủ chính trị và các nhà tranh đấu. Từ năm 1956 đến 1971, FBI đã tung ra hơn 2000 chiến dịch để triệt hạ uy tín và quấy nhiễu các tổ chức biểu tình của người da đen, các nhóm phản chiến, và các hoạt động khác bị coi là đe dọa. Cơ quan này thậm chí còn cung cấp cho Dwight Eisenhower những thông tin bôi nhọ ứng viên Đảng Dân chủ Adlai Stevenson, đối thủ của ông trong cuộc tuyển cử 1952. Tương tự như thế, chính quyền Nixon đã sử dụng Văn phòng của Bộ trưởng Tư pháp Mỹ và các cơ quan khác để chống lại “kẻ thù” của nó trong Đảng Dân chủ và trong giới truyền thông. Và các cuộc điều tra của Quốc hội nhắm vào cái gọi là âm mưu lật đổ Chính phủ đe dọa các quyền dân sự và quyền tự do hơn nữa. Cũng như chủ nghĩa độc tài miền Nam, việc lạm dụng các cơ quan tình báo và cơ quan thi hành luật pháp liên bang gần như đã chấm dứt trong thập niên 1970 — trường hợp này diễn ra tiếp theo sau những cải tổ hậu Watergate (the post-Watergate reforms).

 

Thể chế dân chủ Mỹ hãy còn lâu mới đạt được mức độ lý tưởng. Các cựu tù nhân thường phạm, phần lớn là người da đen, thường bị cấm sử dụng lá phiếu; nhiều tiểu bang đang thử nghiệm một loạt hạn chế mới đối với quyền bầu cử; và việc tập trung các đóng góp tài chính vận động tranh cử trong tay giới nhà giàu nêu lên những quan ngại nghiêm trọng về tính đại diện thtậ sự của nền dân chủ Mỹ. Tuy vậy, Hiệp Chúng Quốc đã là một nền dân chủ đa chủng chân chính [a bona fide multiracial democracy] gần ngót nửa thế kỷ nay.

 

Nhưng đúng vào lúc Hiệp Chúng Quốc thể hiện được hứa hẹn dân chủ của mình, các nền tảng của hệ thống chính trị lại bắt đầu suy yếu. Mỉa mai là, chính tiến trình dân chủ hóa tại miền Nam đã gây ra tình trạng phân cực gay gắt hiện đang đe dọa nền dân chủ Mỹ.

 

SỰ CHIA RẼ TRẦM TRỌNG

 

Các học giả từ lâu đã nhận ra tình trạng phân cực hóa chính trị là yếu tố chính đằng sau sự suy sụp của một nền dân chủ. Sự phân cực quá đáng sẽ khiến các nhà chính tri và thế lực hậu thuẫn họ coi địch thủ của mình là thiếu chính nghĩa và, trong một số trường hợp, là mối đe dọa cho sinh mệnh chính trị của mình. Thường thường, các chuẩn mực dân chủ trở nên suy yếu khi các chính trị gia cố tình phá luật, hợp tác với các phần tử cực đoan phản dân chủ, và thậm chí dung túng hoặc khuyến khích bạo động để loại bỏ đối thủ của mình ra khỏi quyền lực. Ít có chế độ dân chủ nào tồn tại lâu dài dưới các điều kiện như thế.

 

Mãi cho đến gần đây, Hiệp Chúng Quốc có vẻ không bị lây nhiễm bởi các mối đe dọa đó. Thật vậy, truyền thống tự chế ngự và tinh thần hợp tác trước đây đã giúp Hiệp Chúng Quốc tránh được các hình thức đảng phái đấu đá nhau đến chết, vốn đã tiêu diệt các nền dân chủ tại Đức và Tây Ban Nha trong những năm 1930 và tại Chí Lợi trong những năm 1970. Tại Hiệp Chúng Quốc, các lãnh đạo Đảng Dân chủ từng chống lại nỗ lực cài người vào Tối Cao Pháp viện của Tổng thống Franklin Roosevelt [là người cùng đảng, DG], và nhiều nhân vật Cộng hòa cũng từng hậu thuẫn cuộc điều tra và truy tố Tổng thống Richard Nixon. Đảng nắm được Nhà Trắng [trong quá khứ] không bao giờ sử dụng quyền lực Chính phủ đến mức tối đa để chống lại phía bên kia. Trên thực tế, sự khiếm dụng quyền lực có hệ thống [the systematic underutilization of power] của các Tổng thống và phe đa số trong Quốc hội từ lâu đã đóng vai trò một nguồn sinh lực cho sự ổn định dân chủ tại Hiệp Chúng Quốc.

 

Nhưng sau khi Đạo luật Dân quyền và Đạo luật Quyền bầu cử được phê chuẩn trong những năm 1960, Đảng Dân chủ (từ lâu là thế lực bảo trợ sự độc tôn của người da trắng) và Đảng Cộng hòa (“đảng của Lincoln”) đã tổ chức lại chính trường quốc gia theo ranh giới chủng tộc. Dân da đen miền Nam đăng ký cử tri là đảng viên Dân chủ và dân da trắng miền Nam ngày càng trở thành đảng viên Cộng hòa. Nhiều người da trắng miền Nam bầu Cộng hòa vì những lý do giai cấp: mức thu nhập của miền Nam lúc bấy giờ đang gia tăng, do đó tăng cường sức thu hút của các chính sách kinh tế do Đảng Cộng hòa đưa ra. Nhưng nhiều người đã chọn các ứng viên Cộng hòa vì lập trường bảo thủ của họ về các vấn đề chủng tộc và vì họ kêu gọi tăng cường “luật pháp và trật tự.”

 

Công cuộc tái tổ chức này đã giúp thay đổi thành phần của Quốc hội. Trong những thập kỷ sau đó, miền Nam đã chuyển đổi từ một khu vực độc đảng của Đảng Dân chủ thành một khu vực do Cộng hòa khống chế. So với thời trước miền Nam đã từng gởi các nhân vật Dân chủ ôn hòa đến Quốc hội, thì ngày nay miền Nam lại bầu hoặc là các ứng viên Dân chủ da đen hay gốc châu Mỹ La tinh có xu thế tự do bình đẳng hoặc, thông thường hơn nhiều, các ứng viên Cộng hòa da trắng rất bảo thủ. Tình trạng phân cực hóa ý thức hệ trong Quốc hội chắc chắn có nhiều nguyên nhân khác, nhưng kinh nghiệm dân chủ hóa miền Nam là một nguyên nhân rất quan trọng. Hậu quả là hiện có hai đảng chính trị mà mỗi đảng trở nên thuần nhất về ý thức hệ — và có kỹ luật – hơn trước rất nhiều. Đã qua đi cái thời có những vấn đề mà hai đảng cùng chia sẻ quan điểm, một khả năng làm lắng dịu sự xung đột đảng phái, cùng với những nhân vật ôn hòa trong mỗi đảng rất cần thiết cho việc soạn thảo các thoả hiệp lập pháp.

 

Sự chiến thắng của thể chế dân chủ ở miền Nam không những phân cực hóa Quốc hội về mặt ý thức hệ; nó còn phân cực hóa hàng ngũ cử tri theo đường lối của mỗi đảng. Bắt đầu từ những năm cuối thập niên 1960, các ứng viên Dân chủ và Cộng hòa bắt đầu khẳng định quan điểm ngày càng khác biệt về chính sách công, trước hết trên các vấn đề chủng tộc (chẳng hạn chống kỳ thị khi thuê mướn nhân viên / affirmative action) và sau đó trên một phạm vi rộng lớn hơn gồm nhiều vấn đề khác. Như nhà nghiên cứu chính trị Michael Tesler từng tranh luận, những kêu gọi vận động tranh cử có ngụ ý chủng tộc [racially coded campaign appeals] thúc đẩy cử tri đánh giá các chương trình Chính phủ căn cứ trên các nhóm xã hội được hưởng lợi từ những chương trình đó. Qua thời gian, thái độ chủng tộc của cử tri da trắng ngày càng ảnh hưởng lên quan điểm của họ về chính sách công, thậm chí trên những vấn đề bề ngoài không liên quan đến chủng tộc, như y tế, An sinh Xã hội, và thuế.

 

Theo chỉ dẫn của các lãnh đạo đảng, cử tri ngày càng tự xếp mình vào hàng ngũ đảng có ý thức hệ “đúng đắn” phù hộp với mình: do đó số cử tri Cộng hòa trung-tả hoặc Dân chủ trung-hữu [cử tri có thái độ ôn hòa] không còn lại bao nhiêu. Càng ngày càng có nhiều cử tri da đen ủng hộ các ứng viên Dân chủ hơn bao giờ cả, trong khi đa số cử tri da trắng ngày càng có xu thế bỏ phiếu cho các ứng viên Cộng hòa. Mặc dù chỉ một số lượng bách phân nhỏ cử tri Mỹ có ý thức hệ cao độ (không tương ứng với số đại biểu của họ trong Quốc hội), nhưng cử tri ngày nay biểu hiện một thái độ thù nghịch cao hơn trước đối với các chính trị gia và cử tri của đảng đối lập — điều mà các nhà nghiên cứu chính trị Alan Abrahamowitz và Steven Webster gọi là “tinh thần đảng phái tiêu cực.”

 

Sự phân cực theo tinh thần đảng phái đã được củng cố do sự suy yếu của các hãng truyền thông chính mạch, vốn là một thành phần rất quan trọng để duy trì trách nhiệm giải trình dưới thể chế dân chủ. Mãi cho đến thập niên 1990, hầu hết dân Mỹ tiếp nhận tin tức từ một số mạng lưới truyền hình có uy tín. Chính bản thân các chính trị gia cũng tùy thuộc vào báo chí rất nhiều để thu hút sự chú ý của dân chúng, do đó họ không thể làm mất lòng các ký giả. Nhưng trong 20 năm qua, các hãng truyền thông ngày càng trở nên phân cực hóa. Sự trỗi dậy của hãng truyền thông Fox News đã mở ra một kỷ nguyên mới cho các kênh tin tức nặng tinh thần đảng phái.

 

Trong khi đó, Internet đã tạo điều kiện dễ dàng hơn trước để người dân tìm ra các tin tức khẳng định tín lý chính trị hiện có trong đầu họ và đã đóng một vai trò trong việc các nhật báo địa phương và vùng miền bị đóng cửa khắp nơi.

 

Ngày nay, cử tri Dân chủ và cử tri Cộng hòa tiêu thụ tin tức từ các nguồn hoàn toàn khác nhau, và ảnh hưởng của các hãng truyền thông truyền thống đã suy giảm nhanh chóng. Do đó, cử tri ngày càng dễ tiếp thu các tin tức ngụy tạo [fake news] và càng đặt nhiều tin tưởng vào người phát ngôn của đảng. Khi các biến cố được sàng lọc qua các phương tiện truyền thông manh mún và phân cực, người Mỹ gần như theo dõi các biến cố chính trị qua lăng kính thuần túy đảng phái. Ta thử xem xét những gì xảy ra sau khi Trump phá vỡ chính sách truyền thống của Đảng Cộng hòa để trở nên thân thiện với Putin: một thăm dò dư luận cho thấy chỉ số ủng hộ Putin trong giới cử tri Cộng hòa đã gia tăng từ 10 phần trăm vào tháng Bảy 2014 lên đến 37 phần trăm vào tháng Mười Hai 2016.

 

Khoảng cách ngày càng tăng giữa những người Mỹ giàu nhất nước và dân chúng còn lại cũng làm nổi bật sự phân cực chính trị. Tình trạng bất bình đẳng về mức thu nhập đã đạt đến điểm cao nhất từ thời Đại Suy trầm Kinh tế 1930 cho đến nay. Tăng trưởng lợi tức bộc phát của những người ở chóp bu đã gia tăng hậu thuẫn của giới cử tri giàu và những người đóng góp quĩ vận động tranh cử đối với các chính sách kinh tế bảo thủ, đặc biệt trên vấn đề thuế, và đã đẩy các nhà lập pháp Cộng hòa về cánh Hữu. Hơn nữa, tình trạng đồng lương của gia cấp công nhân đứng yên một chỗ suốt ba thập kỷ đã châm ngòi một phản ứng hữu khuynh có ngụ ý chủng tộc [racial overtones], đặc biệt từ những người da trắng ở vùng quê, những người đã dồn sự giận dữ của mình vào các chương trình chi tiêu phóng khoáng mà họ cho là có lợi cho các nhóm thiểu số [da màu] ở thành thị.

 

Những dị biệt chính trị ngày một gia tăng về vấn đề bản sắc [identity] đã vượt ra ngoài tính nhị phân trắng-đen truyền thống [the traditional black-white binary]. Từ những năm 1970, số người nhập cư gia tăng đã cộng thêm người Mỹ gốc châu Mỹ La tinh và gốc châu Á vào danh sách cử tri, phần lớn là đảng viên Dân chủ, vì thế đào sâu khoảng cách giữa người da trắng và người da màu. Những xu thế này đã làm tồi tệ thêm nỗi lo lắng của người da trắng về việc mất địa vị ưu việt về dân số, văn hóa, và chính trị — giống hệt như người da trắng từng lo lắng trước khi tiến trình dân chủ hóa diễn ra. Như vậy, trong nhiều lãnh vực, chính trị màu da của miền Nam đã lan rộng cả nước.

 

NHỮNG MỐI NGUY CỦA PHÂN CỰC HÓA CHÍNH TRỊ

 

Sự phân cực theo tinh thần đảng phái đặt ra một số nguy cơ cho nền dân chủ Mỹ. Trước hết, nó dẫn đến tình trạng tắc nghẽn [gridlock] lập pháp, đặc biệt khi một đảng nắm lập pháp và đảng kia nắm hành pháp. Do tình trạng phân cực hóa gia tăng, số đạo luật được Quốc hội thông qua càng ngày càng ít đi, để lại nhiều vấn đề nghiêm trọng không được giải quyết. Sự rối loạn chức năng này xoái mòn lòng tin tưởng của dân chúng đối với các định chế chính trị, và việc này diễn ra theo đường ranh đảng phái. Các cử tri hậu thuẫn đảng không nắm được Nhà Trắng, mất tin tưởng ở Chính phủ một cách đáng ngạc nhiên: trong một cuộc thăm dò dư luận năm 2010, do các nhà nghiên cứu chính trị Marc Hetherington và Thomas Rudolph tiến hành, đa số cử tri Cộng hòa được thăm dò cho rằng họ “không bao giờ” tin tưởng Chính phủ liên bang.

 

Nạn tắc nghẽn lập pháp, tiếp đó, thúc đẩy các Tổng thống theo đuổi hành động đơn phương bên lề những hạn chế hiến định. Khi một Chính phủ bị chia rẽ, với đảng không cầm quyền quyết tâm chặn đứng nghị trình lập pháp của Tổng thống, các Tổng thống nản chí tìm cách tránh thông qua Quốc hội. Họ bành trướng thế lực của mình qua các lệnh hành pháp [executive orders] cũng như các biện pháp đơn phương khác, và tập trung trong tay mình quyền kiểm soát bộ máy hành chính liên bang. Đồng thời, tình trạng phân cực hoá khiến Quốc hội khó giám sát Nhà Trắng hơn, vì các thành viên Quốc hội gặp nhiều trở ngại trong việc tạo ra một phản ứng tập thể mang tính lưỡng đảng trước sự qua mặt của hành pháp.

 

Khi một đảng kiểm soát cả Quốc hội lẫn Nhà Trắng, các nhà lập pháp ít khi có động lực thi hành sự giám sát chặt chẽ đối với Tổng thống. Vì thế, tình trạng phân cực hiện nay giảm thiểu cơ may các nhân vật Cộng hòa trong Quốc hội sẽ hạn chế quyền hành của Trump. Mặc dù nhiều lãnh đạo đảng muốn thấy một nhân vật Cộng hòa dễ tiên đoán hơn nắm giữ Nhà Trắng, nhưng hậu thuẫn mạnh mẽ của Trump trong khối cử tri Cộng hòa ngụ ý rằng bất cứ một sự chống đối nghiêm trọng nào từ bên trong chắc chắn sẽ xẽ đôi đảng này và khuyến khích người cùng đảng ra tranh cử thách thức lại Tổng thống [primary challenges], và đe dọa nghị trình bảo thủ đầy tham vọng của Đảng Cộng hòa. Vì thế, các đại biểu Cộng hòa trong Quốc hội không thể đi theo dấu chân của các vị tiền nhiệm Cộng hòa từng kiềm hãm Nixon trước đây. Trên thực tế, cho đến nay họ vẫn không chịu nghiêm chỉnh điều tra những xung đột lợi ích của Trump hay những cáo buộc về việc ban vận động tranh cử của ông thông đồng với Chính phủ Nga.

 

Thậm chí còn nguy hiểm hơn nữa, Đảng Công hòa đã trở nên cực đoan đến mức độ, theo lời các học giả Thomas Mann và Norman Omstein, “bác bỏ luôn tính chính danh của đối lập chính trị.” Trong hai thập kỷ vừa qua, nhiều viên chức dân cử, các nhà hoạt động và giới truyền thông Cộng hòa đã bắt đầu coi các đối thủ Dân chủ của mình như một mối đe dọa cho sinh mệnh chính trị của họ — cho an ninh quốc gia và cho lối sống của họ — và không còn nhìn nhận tính chính danh của đối lập. Bản thân Trump đã vươn lên đài danh vọng chính trị bằng cách đặt nghi vấn về điều kiện công dân [nơi sinh] của Barack Obama. Trong suốt mùa tranh cử 2016, Trump liên tục gọi đối thủ của mình, Hillary Clinton, là một tội phạm, và các nhà lãnh đạo Cộng hòa dẫn đám đông hô to khẩu hiệu “Cho thị vào tù” [lock her up] tại đại hội đảng.

 

Các đảng chính trị coi đảng đối lập là thiếu tính chính danh, dễ có xu thế sử dụng các biện pháp cực đoan để làm địch thủ của mình suy yếu. Trên thực tế, Đảng Cộng hòa đang ngày càng từ bỏ các chuẩn mực lâu đời về tự chế và hợp tác [restraint and cooperation] — những cột trụ chính của ổn định chính trị tại Mỹ — để theo đuổi những chiến thuật, mặc dù hợp pháp nhưng vi phạm các truyền thống dân chủ và nâng vốn cá cược [raise the stakes] trong ván bài xung đột chính trị hiện nay. Việc các dân biểu Cộng hòa xử tội Tổng thống Bill Clinton năm 1998 là một trường hợp điển hình đầu tiên. Việc các thượng nghị sĩ Cộng hòa không chịu mở các cuộc điều trần phê chuẩn [confirmation hearings] cho ứng viên Tối cao Pháp viện của Obama năm 2016 đánh dấu thêm một trường hợp điển hình khác.

 

Ở cấp tiểu bang, phe Cộng hòa còn đi xa hơn nữa, bằng cách thông qua các đạo luật có mục đích tạo bất lợi cho đối phương của mình. Trường hợp trắng trợn nhất phát xuất từ bang North Carolina, tại đó vào cuối năm 2016, Quốc hội tiểu bang do Cộng hòa kiểm soát, vào lúc gần hết nhiệm kỳ, đã thông qua một số luật vào phút cuối để truất bớt quyền hành của vị thống đốc Dân chủ vừa đắc cử. Trong khi đó, các đại biểu Cộng hòa trên một chục tiểu bang khác đã đưa ra các đạo luật để xử hình sự một số dạng thức chống đối nào đó. Thậm chí đáng lo ngại hơn nữa là các hạn chế mới áp đặt lên quyền bầu cử, được biện minh là những nỗ lực chống bầu cử gian lận đang diễn ra hàng loạt, một vấn đề giản dị là không có. Những luật này được tập trung tại các bang mà phe Cộng hòa vừa giành quyền kiểm soát Quốc hội song chỉ giữ được đa số mong manh [slim majority], cho thấy rằng mục đích chính của họ là giảm bớt sự tham gia của các cử tri có khả năng bầu cho các ứng viên Dân chủ, như người da màu chẳng hạn. Về phần mình, Trump đã thúc đẩy những nỗ lực như thế. Không những ông tuyên bố sai lầm rằng cuộc bầu cử 2016 đã bị hoen ố vì tình trạng phiếu bầu bất hợp pháp diễn ra khắp nơi, do đó làm suy giảm lòng tin của dân chúng vào tiến trình tuyển cử, mà Bộ Tư pháp của ông lại còn tỏ ra sẵn sàng bảo vệ các tiểu bang đang đối diện với các vụ kiện liên quan việc hạn chế quyền bầu cử.

 

Bằng cách này Trump đã leo lên địa vị Tổng thống vào một thời điểm đặc biệt nguy hiểm cho thể chế dân chủ Mỹ. Đảng của ông kiểm soát lưỡng viện Quốc hội và 33 thống đốc tiểu bang, đã và đang vận dụng các chiến thuật lấy cứu cánh biện minh cho phương tiện [hardball tactics], nhằm làm suy yếu phe đối lập. Trong vai trò Tổng thống, chính bản thân Trump liên tục chà đạp các qui phạm dân chủ [democratic norms] – đả kích các thẩm phán, các hãng truyền thông, và tính hợp pháp của tiến trình bầu cử. Nếu chính quyền của ông có hành động độc tài trắng trợn đi nữa, thì tình trạng phân cực hiện nay đã giảm thiểu các viễn tượng trong đó Quốc hội sẽ huy động một cuộc đề kháng lưỡng đảng hay dân chúng sẽ ồ ạt quay ra chống lại ông.

 

SỐ PHẬN CỦA THỂ CHẾ DÂN CHỦ

 

Cái gì sẽ chặn đứng nạn xoái mòn dân chủ tại Hiệp Chúng Quốc? Người ta không còn lý do để tin chắc rằng sự cam kết của người Mỹ đối với thể chế dân chủ sẽ là một biện pháp bảo vệ nó. Mãi cho đến thập niên 1960, tuyệt đại đa số dân Mỹ đã dung túng bao che các hạn chế nghiêm ngặt áp đặt lên thể chế dân chủ tại miền Nam. Người ta cũng không nên kỳ vọng Hiếp pháp Mỹ tự nó có thể ngăn chặn tình trạng thoái trào dân chủ. Như hai nhà nghiên cứu hiến pháp Tom Ginsburg và Aziz Hug đã lý luận, những hàm hồ của Hiến pháp Hiệp Chúng Quốc đã dành chỗ đáng kể cho việc lạm quyền của hành pháp trên nhiều mặt trận khác nhau — gồm khả năng cài đặt các cơ quan Chính phủ bằng các thuộc hạ trung thành của mình và bổ nhiệm hoặc bãi nhiệm các bộ trưởng Tư pháp vì lý do chính trị. Nếu thiếu đi các qui phạm bất thành văn về tự chế và hợp tác, thì ngay cả hiến pháp dù được thiết kế tốt nhất cũng không thể hoàn toàn bảo vệ được dân chủ.

 

Báo chí cũng không thể ngăn được tình trạng thoái trào dân chủ. Các hãng truyền thông chính mạch sẽ tiếp tục điều tra và tố cáo các sai phạm của Chính quyền Trump. Nhưng trong môi trường truyền thông hiện nay, ngay cả những phơi bày lạm quyền nghiêm trọng có thể được phe Dân chủ ngấu nghiến tiêu thụ nhưng sẽ bị những người ủng hộ Trump bác bỏ vì cho rằng đó là các đả kích do tinh thần đảng phái.

 

Những ai đặt hi vọng vào phản ứng chống đối từ bộ máy hành chính cũng có thể thất vọng. Hiệp Chúng Quốc thiếu hẳn loại công chức chuyên nghiệp đầy quyền lực mà người ta có thể tìm thấy tại các nước dân chủ Châu Âu. Ngoài ra, việc Đảng Cộng hòa kiểm soát cả Nhà Trắng lẫn Quốc hội cũng hạn chế động lực của các nhà lập pháp Cộng hòa trong vấn đề theo dõi lối hành xử của Tổng thống đối với các cơ quan liên bang. Trong khi đó, các nhân viên phục vụ những cơ quan này cho thấy họ có thể bị hù dọa quá đáng, không dám chống lại các lạm quyền của Nhà Trắng. Hơn nữa, Quốc hội kiểm soát ngân sách của các cơ quan Chính phủ, và vào tháng Giêng vừa qua, phe Cộng hòa Hạ viện đã làm sống lại Qui tắc Holman, một điều khoản lạ đời có từ năm 1876 cho phép Quốc hội giảm lương của bất cứ công chức hành chính nào xuống chỉ 1 đô la.

 

Hệ thống Chính phủ liên bang của Hiệp Chúng Quốc và ngành tư pháp độc lập cần phải cung ứng nhiều biện pháp bảo vệ vững mạnh hơn nữa để chống lại tình trạng thoái trào của thể chế dân chủ. Mặc dù sự tản quyền quá đáng trong các cuộc tuyển cử Mỹ sẽ khiến chúng không được đồng đều về phẩm chất, nhưng việc này cũng ngăn chặn bất cứ nỗ lực nào nhắm tới dùng thủ đoạn có phối hợp trong cuộc bầu cử. Và mặc dù các toà Liên bang thường không bảo vệ các quyền cá nhân của công dân (như khi chúng cho phép giam giữ công dân Mỹ gốc Nhật trong Thế chiến II), nhưng các thẩm phán liên bang kể từ thập niên 1960 nói chung đã củng cố các dân quyền và tự do dân sự. Tuy nhiên, thậm chí các tòa án liên bang cũng không tránh khỏi các áp lực chính trị từ những ngành khác trong Chính phủ.

 

Cuối cùng, số phận nền dân chủ Mỹ dưới thời Trump có thể tùy thuộc vào các biến cố bất ngờ. Cái thắng mạnh nhất để chặn đứng tình trạng thoái trào dân chủ hiện nay là một Tổng thống mất lòng dân. Các chính trị gia Cộng hòa, bất an về các hành vi của Trump nhưng lo lắng về việc giành được sự đề cử của đảng, sẽ ít trở ngại hơn trong việc chống đối Trump nếu hậu thuẫn của ông trong hàng ngũ cử tri Cộng hòa bị suy yếu. Hậu thuẫn suy giảm cũng có thể khuyến khích các thẩm phán liên bang chống lại việc bành trướng quyền lực hành pháp một cách mạnh dạn hơn. Như vậy, các yếu tố có thể làm suy yếu tiếng tăm của Trump, như một cuộc khủng hoảng kinh tế hay một “giây phút Katrina” — một tai họa có tầm kích lớn mà Chính phủ bị mọi người qui trách nhiệm – may ra có thể chặn đứng quyền lực của ông.

 

Nhưng các biến cố cũng có thể mang lại hậu quả trái chiều. Nếu một cuộc chiến tranh hay tấn công khủng bố xảy ra, cam kết bảo vệ các quyền tự do dân sự từ các chính trị gia và từ dân chúng có thể sẽ suy yếu. Như đã xẩy ra, Trump từng chụp mũ ngành tư pháp độc lập và ngành báo chí độc lập là những mối đe dọa cho an ninh quốc gia, cáo buộc vị chánh án liên bang đã triệt hạ lệnh cấm đi lại [travel ban] ban đầu của ông là làm cho đất nước “lâm nguy” và gọi các hãng truyền thông giòng chính là “kẻ thù.” Trong trường hợp có một cuộc tấn công khủng bố tầm cỡ như vụ 9/11 [ngày 11 tháng Chín], bất cứ nỗ lực nào nhằm đàn áp giới truyền thông, bất đồng chính kiến, hoặc các nhóm thiểu số và tôn giáo cũng sẽ ít gặp trở ngại hơn nhiều.

 

Chính quyền của Tổng thống Trump đã chọc thủng niềm tin tưởng của nhiều người Mỹ về tính ưu việt của nước họ. Nền dân chủ Mỹ không miễn nhiễm [immune] đối với tình trạng thoái trào [trở lại thời kỳ thiếu dân chủ tại miền Nam trước thập niên 1970.] Trên thực tế, dân chủ Mỹ đang đối diện một thách thức vượt quá thời đại Trump: đó là duy trì một nền dân chủ đa chủng tộc [multiracial democracy] được khai sinh cách nay nửa thế kỷ. Ít có nền dân chủ nào tồn tại qua những thời kỳ quá độ [transitions] trong đó các nhóm chủng tộc giữ ưu thế trong lịch sử mất địa vị đa số [majority status] của mình. Nếu dân chủ Mỹ có thể làm được điều này, nó sẽ chứng minh được tính ưu việt của mình trên thực tế.

 

Nguồn: Foreign Affairs, May-June, 2017

 

 

Post a Comment

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*