Thực thi dân quyền

Nâng cao dân trí - Chân hưng dân khí

Cải thiện dân sinh-Xây dựng dân chủ

Nền tảng chính trị

Trọng lượng của Địa Chính trị

Chính trị đi theo địa chính trị, đại loại thường có vẻ thế suốt lịch sử. Khi đế chế của nền dân chủ Athen nổi lên trong thế kỷ thứ năm trước công nguyên, số các thành bang Hy Lạp được những người dân chủ cai trị đã tăng nhanh; sức mạnh của Sparta được phản ánh trong sự phổ biến của các tập đoàn đầu sỏ chính trị kiểu Sparta. Khi sức mạnh của Liên Xô tăng lên trong đầu các năm Chiến tranh Lạnh, chủ nghĩa cộng sản lan ra. Trong những năm cuối Chiến tranh Lạnh, khi Hoa Kỳ và Tây Âu có được ưu thế và cuối cùng đã chiến thắng, các nền dân chủ đã tăng nhanh và chủ nghĩa cộng sản sụp đổ. Đấy có phải chỉ là kết cục của trận đấu của các ý tưởng, như Francis Fukuyama và những người khác lý lẽ, với ý tưởng tốt hơn của chủ nghĩa tư bản khai phóng chiến thắng các ý tưởng tồi hơn của chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa phát xít? Hay các ý tưởng khai phóng chiến thắng, một phần bởi vì các cuộc đấu tranh và sự thay đổi thực mà đã xảy ra ít trong thế giới tư duy hơn là trong lĩnh vực quyền lực?
Đấy là những câu hỏi xác đáng lần nữa. Chúng ta sống trong một thời đại khi các quốc gia dân chủ rút lui trong lĩnh vực địa chính trị và khi bản thân dân chủ cũng rút lui. Hiện tượng sau đã được chứng minh bằng tư liệu bởi Freedom House, mà đã ghi nhận sự sa sút tự do trên thế giới trong suốt chín năm. Ở mức địa chính trị, các mảng kiến tạo thay đổi còn phải tạo ra một sự sắp xếp lại địa chấn về quyền lực, nhưng những tiếng ầm ầm có thể được nghe thấy rồi. Hoa Kỳ đã ở trong một trạng thái giảm bớt chi kể từ khi Tổng thống Barack Obama nhậm chức năm 2009. Các quốc gia dân chủ Âu châu, mà một vài đã có thể kỳ vọng tránh được sự đình đốn, thay vào đó đã quay về hướng nội và hầu như đã bỏ các ước mơ trước kia về định hình lại hệ thống quốc tế theo hình ảnh của họ. Về phần các nền dân chủ đang lên như Brazil, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, và Nam Phi, họ đã chẳng nổi lên nhanh như một thời chờ đợi, cũng không ứng xử như các nền dân chủ trong công việc thế giới. Tiêu điểm của họ vẫn hẹp và có tính khu vực. Bản sắc quốc gia của họ vẫn bị tạo hình bởi sự nhạy cảm hậu thuộc địa và không liên kết–bởi những oán giận cũ nhưng được nuôi dưỡng cẩn thận–mà đã dẫn họ, thí dụ, đến che chắn hơn là lên án việc Nga chuyên quyền xâm lấn Ukraine dân chủ hay, trong trường hợp Brazil, thích bè bạn với các nhà độc tài Venezuela hơn với các tổng thống dân chủ Bắc Mỹ.

Trong lúc ấy, tới một chừng mực mà có năng động trong hệ thống quốc tế, nó đến từ các đại cường chuyên quyền, Trung Quốc và Nga, và từ các nhà muốn là thần quyền theo đuổi giấc mơ của họ về một caliphate (vương quốc Islam) mới ở Trung Đông. Mặc dù họ có nhiều vấn đề và điểm yếu, vẫn chính các chế độ chuyên quyền và các nhà toàn trị mộ đạo này đẩy tới còn các nền dân chủ kéo lui, họ hành động còn các nền dân chủ phản ứng lại, và họ có vẻ ngày càng sổng (chuồng) còn các nền dân chủ cảm thấy ngày càng bị ràng buộc.

Chẳng ngạc nhiên rằng một trong những kết quả phụ của hoàn cảnh này đã là sự yếu đi và trong một số trường hợp là sự sụp đổ của dân chủ ở những nơi nó đã là mới nhất và yếu nhất. Những thay đổi địa chính trị giữa các đại cường thống trị, thường nhưng không luôn luôn là kết quả của các cuộc chiến tranh, có thể có những ảnh hưởng đáng kể lên chính trị trong nước của các quốc gia nhỏ hơn và yếu hơn của thế giới. Các xu hướng dân chủ hóa toàn cầu đã ngừng và đã đảo ngược trước.

Hãy xem xét các năm giữa chiến tranh. Trong 1920, khi số các nền dân chủ trên thế giới đã tăng gấp đôi như hậu quả của Chiến tranh Thế giới thứ Nhất, các nhà đương thời như sử gia Anh James Bryce đã tin rằng họ đã chứng kiến “một xu hướng tự nhiên, do một quy luật chung về sự tiến bộ xã hội.”1 Thế nhưng hầu như ngay lập tức các nền dân chủ mới ở Estonia, Latvia, Lithuania, và Ba Lan đã bắt đầu sụp đổ. Các đại cường dân chủ Âu châu, Pháp và Anh, đã chịu hậu quả của cuộc chiến tranh tàn phá vừa qua, còn một cường quốc dân chủ giàu và lành mạnh, Hoa Kỳ, thì đã rút lui vào sự an toàn của các bờ biển xa xôi của nó. Trong chân không Mussolini đã lên nắm quyền ở Italy năm 1922, Cộng hòa Weimar của Đức sụp đổ, và chủ nghĩa phát xít Âu châu chiến thắng rộng hơn. Nền dân chủ Hy Lạp sụp đổ năm 1936. Nền dân chủ Tây Ban Nha rơi vào tay Franco cùng năm đó. Các cuộc đảo chính quân sự đã lật đổ các chính phủ dân chủ ở Bồ Đào Nha, Brazil, Uruguay, và Argentina. Nền dân chủ Nhật Bản đã thua sự cai trị quân sự và sau đó là một dạng của chủ nghĩa phát xít.

Khắp ba lục địa, các nền dân chủ mong manh đã nhường đường cho các lực lượng độc đoán tận dụng các tính dễ bị tổn thương của hệ thống dân chủ, trong khi các nền dân chủ khác đã là nạn nhân của suy thoái kinh tế toàn cầu. Cũng đã có một tác động lan lăn tăn nữa–thành công của chủ nghĩa phát xít ở một nước đã củng cố, đôi khi một cách trực tiếp, các phong trào tương tự ở nơi khác. Bọn phát xít Tây Ban Nha đã nhận được sự giúp đỡ quân sự từ các chế độ phát xít ở Đức và Italy. Kết quả là, vào năm 1939 những lợi lộc dân chủ của 40 năm trước đã bị xóa sạch.

Giai đoạn sau Chiến tranh Thế giới I đã chứng tỏ không chỉ rằng các lợi lộc dân chủ đã có thể bị đảo ngược mà cả rằng dân chủ không nhất thiết luôn chiến thắng ngay cả trong cuộc cạnh tranh của các ý tưởng. Vì đã không chỉ các nền dân chủ bị lật đổ; chính ý tưởng về dân chủ đã bị “mất uy tín,” như John A. Hobson đã nhận xét.2 Khí chất không thể tránh khỏi của dân chủ đã biến mất khi số đông người bác bỏ ý tưởng rằng nó đã là hình thức tốt hơn của chính quyền. Rốt cuộc, con người không ao ước chỉ quyền tự do, sự tự trị, tính cá nhân, và sự công nhận. Đặc biệt trong thời khó khăn, họ cũng khát khao sự sung túc, an ninh, trật tự, và, thật quan trọng, một cảm nhận thuộc về cái gì đó lớn hơn bản thân họ, cái gì đó nhấn chìm sự tự trị và tính cá nhân–tất cả thứ đó các chế độ chuyên quyền đôi khi có thể cung cấp, hoặc chí ít có vẻ cung cấp, tốt hơn các nền dân chủ.

Trong các năm 1920 và 1930, các chính phủ phát xít đã có vẻ mạnh hơn, năng động và hiệu quả hơn, và có năng lực hơn về làm yên lòng trong thời rối loạn. Chúng đã lôi cuốn hữu hiệu các tình cảm dân tộc chủ nghĩa, sắc tộc, và bộ lạc. Nhiều điểm yếu của nền dân chủ Weimar của Đức, được ủng hộ không thỏa đáng của các đại cường dân chủ, và của các nền dân chủ mỏng manh và ngắn của Italy và Tây Ban Nha đã làm cho nhân dân của họ dễ bị ảnh hưởng của bọn Nazi, Mussolini, và Franco, hệt như những yếu kém của nền dân chủ Nga trong các năm 1990 đã làm cho một chính phủ độc đoán hơn dưới Vladimir Putin hấp dẫn nhiều người Nga. Người dân thường đi theo những kẻ thắng, và giữa các cuộc chiến tranh các nước tư bản dân chủ có vẻ đã yếu và rút lui so với các chế độ phát xít bề ngoài đầy sinh lực và với Liên Xô của Stalin.
Đã cần đến một cuộc chiến tranh thế giới thứ hai và một chiến thắng quân sự khác của các nền dân chủ Đồng Minh (cộng Liên Xô) để đảo ngược xu hướng lần nữa. Hoa Kỳ đã áp đặt dân chủ bằng vũ lực và qua sự chiếm đóng kéo dài ở Tây Đức, Italy, Nhật Bản, Áo, và Nam Hàn. Với thắng lợi của các nền dân chủ và sự làm mất uy tín chủ nghĩa phát xít–chủ yếu trên chiến trường–nhiều nước khác đã noi gương. Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ cả hai đã chuyển theo hướng dân chủ, Brazil, Argentina, Peru, Ecuador, Venezuela, và Colombia cũng thế. Một số quốc gia mới được sinh ra khi châu Âu thoát khỏi các thuộc địa của nó cũng đã thử nghiệm với chính phủ dân chủ, thí dụ nổi bật nhất là Ấn Độ. Vào 1950, số các nền dân chủ đã tăng lên giữa hai mươi và ba mươi, và chúng đã cai trị gần 40 phần trăm dân số thế giới.
Đấy đã là chiến thắng của một ý tưởng hay chiến thắng của vũ khí? Nó đã là sản phẩm của một sự tiến hóa con người không thể tránh khỏi hay, như Samuel P. Huntington muộn hơn đã nhận xét, của “các sự kiện rời rạc về mặt lịch sử”?3 Chúng ta thích tin vào cái trước, nhưng bằng chứng lại gợi ý cái sau, vì đã hóa ra là ngay cả làn sóng lớn của dân chủ tiếp sau Chiến tranh Thế giới II đã không phải là không thể đảo ngược được. Một “làn sóng đảo ngược” khác đã ập tới từ cuối các năm 1950 qua đầu 1970. Peru, Brazil, Argentina, Bolivia, Chile, Uruguay, Ecuador, Nam Hàn, Philippines, Pakistan, Indonesia, và Hy Lạp tất cả đều đã quay lại dưới sự cai trị độc đoán. Ở châu Phi, Nigeria đã là nổi bật nhất trong số các quốc gia mới được phi thuộc địa hóa nơi dân chủ đã thất bại. Vào 1975, hơn ba tá chính phủ quanh thế giới đã được sắp đặt bởi các cuộc đảo chính quân sự.4 Ít người đã nói về tính không thể tránh khỏi của dân chủ trong các năm 1970 hoặc thậm chí trong đầu các năm 1980. Cho đến 1984, bản thân Huntington đã tin rằng đã đạt “các giới hạn của sự phát triển dân chủ trên thế giới,” lưu ý “tính không dễ tiếp thu dân chủ của nhiều truyền thống văn hóa lớn,” cũng như “sức mạnh lớn lao của các chính phủ chống dân chủ (đặc biệt Liên Xô).”
Nhưng rồi, thình lình, “làn sóng thứ ba” đến. Từ giữa các năm 1970 qua đầu các năm 1990, số các nền dân chủ trên thế giới tăng lên con số gây ngạc nhiên 120, đại diện hơn một nửa dân số thế giới. Cái gì đã giải thích thành công kéo dài của dân chủ hóa trong một phần tư cuối của thế kỷ hai mươi? Nó đã không thể chỉ là sự tăng lên đều đặn của nền kinh tế toàn cầu và sự khao khát chung vì tự do, sự tự trị, và sự công nhận. Cả tăng trưởng kinh tế lẫn khát vọng con người đã không ngăn trở sự đảo ngược dân chủ của các năm 1960 và đầu các năm 1970. Cho đến làn sóng thứ ba, nhiều quốc gia trên thế giới đã lật xuôi lật ngược giữa dân chủ và chủ nghĩa độc đoán theo cách chu kỳ, hầu như có thể tiên đoán được. Cái nổi bật nhất về làn sóng thứ ba đã là, sự luân phiên chu kỳ này giữa dân chủ và chuyên quyền đã bị gián đoạn. Các quốc gia đã dời sang pha dân chủ và ở lại đó. Nhưng vì sao?

BẦU KHÔNG KHÍ QUỐC TẾ ĐƯỢC CẢI THIỆN

Câu trả lời liên quan đến cấu hình quyền lực và ý tưởng trên thế giới. Bầu không khí quốc tế từ giữa các năm 1970 trở đi đơn giản đã thân thiện với các nền dân chủ và thách thức với các chính phủ chuyên quyền hơn là trong các thời đại đã qua. Trong nghiên cứu của mình, Huntington đã nhấn mạnh sự thay đổi, tiếp sau Hội đồng Vatican thứ Hai, trong giáo lý của Giáo hội Catholic về trật tự và cách mạng, mà đã có khuynh hướng làm yếu tính chính đáng của các chính phủ độc đoán trong các nước Catholic. Thành công tăng lên và tính hấp dẫn của Cộng đồng Âu châu (EC), trong lúc đó, đã có một tác động lên các chính sách đối nội của các quốc gia như Bồ Đào Nha, Hy Lạp, và Tây Ban Nha, tìm các lợi ích kinh tế của tư cách thành viên trong EC và vì thế cảm thấy áp lực để tuân theo các chuẩn mực dân chủ của nó. Các chuẩn mực này ngày càng trở thành các chuẩn mực quốc tế. Nhưng chúng đã không xuất hiện từ không đâu hoặc như kết quả của sự tiến hóa tự nhiên nào đó của loài người. Như Huntington đã lưu ý, “Tính tỏa khắp của các chuẩn mực dân chủ đã dựa phần lớn vào sự cam kết của nước hùng mạnh nhất thế giới với các chuẩn mực đó.”

Hoa Kỳ, thực ra, đã đóng một vai trò cốt yếu khiến cho sự bùng nổ của dân chủ là có thể. Điều này đã không bởi vì các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ đã thúc đẩy dân chủ một cách nhất quán khắp thế giới. Họ đã không. Tại những thời gian khác nhau suốt Chiến tranh Lạnh, chính sách Hoa Kỳ thường đã ủng hộ các chế độ độc tài như phần của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cộng sản hay đơn giản vì thờ ơ. Nó thậm chí đã cho phép hay đã đồng lõa trong việc lật đổ các chế độ dân chủ được cho là không đáng tin cậy–các chế độ của Mohammad Mossadegh ở Iran năm 1953, Jacobo Arbenz ở Guatemala năm 1954, và Salvador Allende ở Chile năm 1973. Đôi khi, chính sách đối ngoại Mỹ đã hầu như thù địch với dân chủ. Tổng thống Richard Nixon đã coi nó như “không nhất thiết là hình thức tốt nhất của chính phủ cho nhân dân ở các châu Á, Phi, và Mỹ Latin.”
Khi Hoa Kỳ có ủng hộ dân chủ, đã cũng chẳng hoàn toàn vì sự trung thành với nguyên tắc. Thường đã là vì các lý do chiến lược. Các quan chức trong chính quyền của Tổng thống Ronald Reagan đã đi đến tin rằng các chính phủ dân chủ có thể thực sự tốt hơn các chế độ chuyên quyền khi né tránh các cuộc nổi dậy cộng sản, chẳng hạn. Và thường là những đòi hỏi của dân chúng địa phương đã buộc Hoa Kỳ đưa ra một lựa chọn mà khác đi nó thích tránh, giữa ủng hộ một chế độ độc tài không được lòng dân và có lẽ nao núng và “sang phía nhân dân.” Reagan đã thích ủng hộ chế độ độc tài của Ferdinand Marcos trong các năm 1980 giả như không phải đối diện với thách thức đạo đức của “sức mạnh nhân dân” Filipino. Hiếm khi, nếu có bao giờ, Hoa Kỳ đã tìm kiếm một sự thay đổi chế độ chủ yếu vì sự tận tâm cho các nguyên tắc dân chủ.

Bắt đầu từ giữa các năm 1970, tuy vậy, thiên hướng chung của Hoa Kỳ đã bắt đầu thay đổi theo quan điểm phê phán hơn chế độ độc tài. Quốc hội Hoa Kỳ, dẫn đầu bởi các nhà chủ trương nhân quyền, đã bắt đầu đặt điều kiện hay cắt viện trợ Mỹ cho các đồng minh độc đoán, làm suy yếu sự nắm quyền của họ. Trong các Hiệp định Helsinki 1975, một sự dẫn chiếu đến các vấn đề nhân quyền đã thu hút sự chú ý lớn hơn đến sự nghiệp của các nhà bất đồng chính kiến và các nhà đối lập khác của chế độ độc tài ở khối phương Đông. Tổng thống Jimmy Carter đã tập trung chú ý vào những vi phạm nhân quyền của Liên Xô cũng như của các chính phủ cánh hữu ở Mỹ Latin và nơi khác. Cục thông tin quốc tế của chính phủ Mỹ, gồm đài Tiếng nói Hoa Kỳ và Đài Châu Âu Tự do/Đài Tự do, đã nhấn mạnh hơn về dân chủ và nhân quyền trong chương trình của chúng. Chính quyền Reagan, đầu tiên đã thử cắt giảm chương trình nghị sự nhân quyền của Carter, rồi cuối cùng đã đi theo nó và biến việc thúc đẩy dân chủ thành một phần của chính sách được tuyên bố (nếu không luôn thật sự) của nó. Ngay cả trong giai đoạn này, chính sách Mỹ đã còn xa mới nhất quán. Nhiều chế độ độc tài liên minh, đặc biệt ở Trung Đông, đã không chỉ được dung túng mà còn được ủng hộ tích cực bằng viện trợ kinh tế và quân sự Mỹ. Nhưng kết quả thuần của sự thay đổi chính sách của Mỹ, cùng các nỗ lực của châu Âu, đã là quan trọng.

Làn sóng thứ ba đã bắt đầu năm 1974 ở Bồ Đào Nha, nơi Cách mạng hoa Cẩm chướng đã chấm dứt một nửa thế kỷ của chế độ độc tài. Như Larry Diamond lưu ý, cuộc cách mạng này đã không chỉ xảy ra. Hoa Kỳ và các nền dân chủ Âu châu đã đóng một vai trò then chốt, tiến hành một “sự đầu tư mạnh … trong hỗ trợ các đảng dân chủ.”

Trong thập kỷ rưỡi tiếp theo, Hoa Kỳ đã sử dụng các công cụ khác nhau, kể cả sự can thiệp quân sự trực tiếp, để giúp các chuyển đổi dân chủ và ngăn chặn sự làm xói mòn các nền dân chủ mỏng manh trên khắp địa cầu. Năm 1978, Carter dã đe dọa hành động quân sự ở Cộng hòa Dominic khi tổng thống lâu đời Joaquín Balaguer từ chối từ bỏ quyền lực sau khi thua một cuộc bầu cử. Năm 1983, cuộc xâm lấn của Reagan vào Grenada đã phục hồi chính phủ dân chủ sau một cuộc đảo chính quân sự. Năm 1986, Hoa Kỳ đã đe dọa hoạt động quân sự để ngăn chặn Marcos khỏi hủy bỏ một cuộc bầu cử mà ông đã thua. Năm 1989, Tổng thống George H. W. Bush đã xâm chiếm Panama để giúp dựng nền dân chủ sau khi nhà quân sự mạnh tay Manuel Noriega đã hủy bỏ các cuộc bầu cử của quốc gia của ông.

Suốt giai đoạn này, hơn thế, Hoa Kỳ đã dùng ảnh hưởng của nó để chặn các cuộc đảo chính quân sự ở Honduras, Bolivia, El Salvador, Peru, và Nam Hàn. Ở nơi khác nó đã thúc các tổng thống không thử ở lại chức vụ quá giới hạn hiến pháp. Huntington đã ước lượng rằng trong tiến trình khoảng một thập kỷ rưỡi, sự ủng hộ của Mỹ đã là “cốt yếu cho dân chủ hóa ở Cộng hòa Dominic, Grenada, El Salvador, Guatemala, Honduras, Uruguay, Peru, Ecuador, Panama, và Philippines” và đã là “một nhân tố đóng góp cho dân chủ hóa ở Bồ Đào Nha, Chile, Ba Lan, Hàn Quốc, Bolivia, và Đài Loan.”

Nhiều tiến triển cả toàn cầu và địa phương đã giúp tạo ra xu hướng dân chủ hóa của cuối các năm 1970 và các năm 1980, và đã có thể có một làn sóng dân chủ ngay cả nếu Hoa Kỳ đã không có ảnh hưởng đến vậy. Câu hỏi là liệu làn sóng đó đã có thể lớn và kéo dài thế hay không. Các vùng ổn định của dân chủ ở châu Âu và Nhật Bản đã tỏ ra là các nam châm hùng mạnh. Thị trường tự do khai phóng và hệ thống tự do thương mại ngày càng làm tốt hơn các nền kinh tế trì trệ của khối xã hội chủ nghĩa, đặc biệt vào lúc bình minh của cách mạng thông tin. Chủ nghĩa tích cực lớn hơn của Hoa Kỳ, cùng với của các nền dân chủ thành công khác, đã giúp để xây dựng một sự đồng thuận rộng, nếu không phổ quát, mà đã đồng tình hơn với các hình thức chính phủ dân chủ và ít đồng tình hơn với các hình thức độc đoán.

Diamond và những người khác đã lưu ý, đã quan trọng ra sao rằng “các chuẩn mực dân chủ toàn cầu” này đã được “phản ánh trong các định chế và các thỏa thuận khu vực và quốc tế chưa từng có trước đây.”10 Các chuẩn mực đó đã có một tác động lên các quá trình chính trị nội địa của các nước, làm khó hơn cho các nhà độc đoán để vượt qua các cơn bão chính trị và kinh tế và dễ hơn cho các phong trào dân chủ để có được tính chính đáng. Nhưng “các chuẩn mực” cũng là nhất thời. Trong các năm 1930, các quốc gia định xu hướng đã là các chế độ phát xít. Trong các năm 1950 và 1960, các biến thể của chủ nghĩa xã hội đã thịnh hành. Nhưng từ các năm 1970 cho đến gần đây, Hoa Kỳ và một nhúm cường quốc dân chủ định xu hướng thời trang. Chúng đã đẩy–vài người thậm chí nói đã áp đặt–các nguyên tắc dân chủ và đã cấy chúng vào các định chế và các thỏa thuận quốc tế.

Quan trọng ngang thế đã là vai trò mà Hoa Kỳ đã đóng trong ngăn chặn sự trượt lùi khỏi dân chủ ở nơi nó vừa mới bén rễ. Có lẽ đóng góp quan trọng nhất của Hoa Kỳ đã đơn giản là ngăn cản các cuộc đảo chính quân sự chống lại các chính phủ dân chủ non nớt. Theo một nghĩa, Hoa Kỳ đã can thiệp vào cái đã có thể là một chu kỳ tự nhiên, ngăn cản các quốc gia mà bình thường đã “đến kỳ” cho một pha độc đoán khỏi theo hình mẫu thông thường. Đã không phải là Hoa Kỳ xuất khẩu dân chủ ở mọi nơi. Thường hơn, nó đã đóng vai của “catcher in the rye (kẻ tóm trong đồng lúa mạch)” –ngăn các nền dân chủ non trẻ khỏi rơi từ vách đá–ở những nơi như Philippines, Colombia, và Panama. Việc này đã giúp làn sóng thứ ba có được độ rộng và tính bền chưa từng có.
Cuối cùng, đã là sự sụp đổ của Liên Xô và với nó sự sụp đổ của các chế độ cộng sản trung và đông Âu và sự thay thế chúng bằng các nền dân chủ. Hoa Kỳ đã đóng vai trò gì trong đẩy nhanh sự sụp đổ Soviet có thể cần tranh luận, nhưng chắc chắn nó đã đóng vai trò nào đó, cả bằng kiềm chế đế chế Soviet về mặt quân sự và bằng làm tốt hơn nó về mặt kinh tế và công nghệ. Và ở tâm của cuộc đấu tranh đã là bản thân nhân dân của các nước Hiệp ước Warsaw trước kia. Họ từ lâu đã khát khao giải phóng các dân tộc của họ khỏi Liên Xô, mà cũng đã có nghĩa là giải phóng khỏi chủ nghĩa cộng sản. Nhân dân các nước này đã muốn gia nhập vào phần còn lại của châu Âu, mà đã đưa ra một mô hình kinh tế và xã hội còn hấp dẫn hơn mô hình Mỹ.
Rằng những người trung và đông Âu đồng nhất chọn các hình thức chính quyền dân chủ, tuy vậy, đã không đơn giản là thành quả của những khát vọng về tự do hay sung túc. Nó cũng đã phản ánh mong muốn của các dân tộc này để đặt mình dưới cái ô an ninh Mỹ. Chiến lược, kinh tế, chính trị và ý thức hệ như thế đã không thể tách rời được. Các quốc gia đó muốn là một phần của NATO, và muộn hơn của EU, đã biết rằng họ sẽ chẳng có cơ hội nào cho việc gia nhập mà không có các chứng chỉ dân chủ. Các chuyển đổi dân chủ này, mà đã biến làn sóng thứ ba thành một sóng thần dân chủ, đã không nhất thiết xảy ra nếu giả như thế giới đã được cấu hình khác đi. Rằng một Tây Âu dân chủ, thống nhất, và thịnh vượng đã ngay ở đó để tạo ra sức hút nam châm hùng mạnh lên các láng giềng phương đông của nó đã do các hoạt động của Hoa Kỳ sau Chiến tranh Thế giới II.

TƯƠNG LAI BỊ MẤT CỦA 1848

Hãy đối sánh số phận của các phong trào dân chủ cuối thế kỷ hai mươi với số phận của các cuộc cách mạng tự do quét ngang châu Âu trong năm 1848. Bắt đầu ở Pháp, “Thời Xuân của Nhân dân,” như nó được biết đến, đã bao gồm các nhà cải cách khai phóng và các nhà theo chủ nghĩa hiến pháp, chủ nghĩa dân tộc, và các đại diện của giai cấp trung lưu đang lên cũng như của các công nhân cấp tiến và các nhà xã hội chủ nghĩa. Trong mấy tuần lễ, họ đã lật đổ các vua và các hoàng tử và làm lung lay các ngai vàng ở Pháp, Ba Lan, Áo, và Romania, cũng như bán đảo Italy và các lãnh địa Đức. Cuối cùng, tuy vậy, các phong trào tự do đã thất bại, một phần bởi vì chúng đã thiếu sự cố kết, nhưng cũng bởi vì các cường quốc chuyên quyền đã đè bẹp chúng bằng vũ lực. Quân đội Phổ đã giúp đánh bại các phong trào tự do ở các vùng đất Đức, còn sa hoàng Nga đã đưa quân vào Romania và Hungary. Hàng trăm ngàn người phản đối đã bị giết trên đường phố châu Âu. Gươm đã tỏ ra mạnh hơn bút.
Đã có ý nghĩa rằng các cường quốc tự do hơn, Anh và Pháp, đã chọn một tư thế trung lập suốt thời kỳ lên men tự do, cho dù cách mạng của chính Pháp đã châm ngòi và gây cảm hứng cho phong trào toàn-Âu. Chế độ quân chủ và giới quý tộc Anh đã sợ chủ nghĩa cấp tiến ở trong nước. Cả Pháp và Anh đã lo lắng hơn đến duy trì hòa bình giữa các đại cường quốc hơn là cung cấp sự giúp đỡ cho các đồng bạn tự do. Sự duy trì cân bằng Âu châu giữa năm cường quốc lớn đã mang lợi cho các lực lượng phản cách mạng ở mọi nơi, và Thời Xuân của Nhân dân đã bị đàn áp.11 Kết quả là, trong nhiều thập kỷ các lực lượng phản cách mạng ở châu Âu đã mạnh lên ngược với các lực lượng tự do.

Các học giả đã suy đoán về châu Âu và thế giới đã có thể tiến hóa khác thế nào giả như các cuộc cách mạng tự do 1848 đã thành công:
Lịch sử Đức đã có thể diễn tiến ra sao giả như sự thống nhất dân tộc đã đạt được dưới một hệ thống nghị viện tự do hơn là dưới sự lãnh đạo của Otto von Bismarck? “Thủ tướng Thép” đã thống nhất quốc gia không qua các cuộc bầu cử và tranh luận mà thông qua các chiến thắng quân sự bằng sức mạnh to lớn của quân đội Phổ bảo thủ dưới triều đại Hohenzollern. Như sử gia A. J. P. Taylor đã nhận xét, lịch sử đã đến điểm rẽ trong năm 1848, nhưng Đức “đã không rẽ.”12 Những người Đức đã có thể học một bài học khác từ bài học mà Bismarck đã dạy–cụ thể là, “các câu hỏi lớn của thời đại đã không được quyết định bởi các bài phát biểu và các quyết định đa số … mà bởi máu và sắt”?13 Tuy vậy hệ thống quốc tế của ngày đó đã không được cấu hình theo cách để cổ vũ sự thay đổi tự do và dân chủ. Cân bằng quyền lực Âu châu trong giữa thế kỷ thứ mười chín đã không thuận lợi cho dân chủ, và như thế không ngạc nhiên rằng dân chủ đã không thắng lợi ở bất cứ đâu.

Chúng ta cũng có thể suy đoán về thế giới hôm nay đã có thể tiến hóa khác ra sao mà không có vai trò của Mỹ trong định hình một môi trường quốc tế thuận lợi cho dân chủ, và nó có thể tiến hóa thế nào nếu Hoa Kỳ thấy mình không còn đủ mạnh để đóng vai trò đó. Các chuyển đổi dân chủ có thể là chín muồi. Các quốc gia có thể bước vào một vùng chuyển đổi–về mặt kinh tế, xã hội, và chính trị–nơi xác suất của việc chuyển theo hướng dân chủ tăng lên hay giảm đi. Nhưng những ảnh hưởng nước ngoài, thông thường do các cường quốc lớn cai trị gây ra, thường quyết định hướng nào sự thay đổi sẽ lấy. Các cường quốc độc đoán mạnh sẵn sàng ủng hộ các lực lượng bảo thủ chống lại các phong trào tự do có thể phá hoại cái mà khác đi đã có thể là một sự tiến hóa “tự nhiên” đến dân chủ, hệt như các quốc gia dân chủ hùng mạnh có thể giúp các lực lượng tự do mà, nếu để tự họ, khác đi đã có thể thất bại.
Trong các năm 1980 như trong các năm 1840, các phong trào tự do đã nổi lên vì các lý do riêng của chúng ở các nước khác nhau, nhưng thành công hay thất bại của chúng bị ảnh hưởng bởi cân bằng quyền lực ở mức quốc tế. Trong thời đại Hoa Kỳ chiếm ưu thế, sự cân bằng đã hết sức thuận lợi cho dân chủ, mà giúp giải thích vì sao các cuộc cách mạng tự do của thời đại muộn hơn đó đã thành công. Giả như Hoa Kỳ đã không hùng mạnh như vậy, đã có thể có ít chuyển đổi hơn sang dân chủ, và các chuyển đổi đã xảy ra đó đã có thể tồn tại ngắn. Nó đã có thể có nghĩa là một làn sóng thứ ba nông hơn và dễ bị đảo ngược hơn.

DÂN CHỦ, CHUYÊN QUYỀN, VÀ QUYỀN LỰC

Về ngày nay thì sao? Với siêu cường dân chủ đang cắt bớt ảnh hưởng toàn cầu của nó, các cường quốc khu vực đang định giọng trong các vùng tương ứng của họ. Không ngạc nhiên, các chế độ độc tài là phổ biến hơn trong các vùng quanh Nga, suốt theo các đường biên giới Trung Quốc (Bắc Triều Tiên, Miến Điện, và Thái Lan), và ở Trung Đông, nơi các truyền thống độc tài lâu đời cho đến nay hầu hết đã chống lại sự thách thức của các cuộc nổi dậy nhân dân.

Nhưng ngay cả ở các khu vực nơi các nền dân chủ vẫn mạnh, các nhà độc đoán đã có khả năng quyết tâm chống lại, còn các láng giềng dân chủ của chúng thì thụ động đứng cạnh. Như thế các lãnh đạo của Hungary, ở giữa tâm của một châu Âu thờ ơ, tuyên bố sự mến yêu của họ với chủ nghĩa phi tự do và đàn áp báo chí và các quyền tự do chính trị trong khi phần còn lại của EU, được cho là một câu lạc bộ của chỉ các nền dân chủ, ngoảnh đi. Ở Nam Mỹ, dân chủ can dự vào một cuộc tranh đua với chế độ độc tài, nhưng một Brazil lãnh đạm đứng nhìn, chỉ nghĩ về thương mại và về chủ nghĩa đế quốc Bắc Mỹ. Trong lúc đó ở Trung Mỹ, cạnh cửa của một Mexico thờ ơ, dân chủ sụp đổ dưới sức nặng của ma túy và tội phạm và sự sống lại của các caudillo (thủ lĩnh). Tuy nhiên có thể là không công bằng để trách móc các cường quốc khu vực vì không làm cái họ đã chẳng bao giờ làm. Tới chừng mực mà sự thay đổi trong phương trình địa chính trị đã tác động đến số phận của các nền dân chủ trên toàn thế giới, có lẽ sự thay đổi trong hành vi của siêu cường dân chủ là cái chịu phần lớn trách nhiệm.
Nếu siêu cường đó không thay đổi tiến trình của nó, chắc chúng ta sẽ thấy dân chủ quanh thế giới thụt lùi thêm. Chẳng có gì là không thể tránh khỏi về dân chủ. Trật tự thế giới tự do mà chúng ta đã sống trong các thập kỷ vừa qua đã không được truyền lại bởi “các Định luật của Tự nhiên và của Chúa của Tự nhiên.” Nó không phải là điểm cuối của sự tiến bộ con người.

Có những người thích một trật tự thế giới khác với trật tự thế giới tự do. Cho đến nay, tuy vậy, họ đã không có khả năng để làm theo ý họ, nhưng không phải bởi vì các ý tưởng của họ về cai quản là không thể để ban hành. Ai nói rằng chủ nghĩa Putin ở Nga hay nhãn đặc biệt của Trung Quốc về chủ nghĩa độc đoán sẽ không sống sót cho đến tương lai như dân chủ Âu châu, mà, rốt cuộc, chưa đầy một thế kỷ trên hầu hết lục địa? Chế độ chuyên quyền ở Nga và Trung Quốc chắc chắn đã loanh quanh ở đó lâu hơn bất kể nền dân chủ Tây phương nào. Quả thực, chính chế độ chuyên quyền, chứ không phải dân chủ, là cái đã là chuẩn mực trong lịch sử con người–chỉ trong các thập kỷ gần đây các nền dân chủ, do Hoa Kỳ dẫn đầu, đã có sức mạnh để định hình thế giới.
Những người nghi ngờ về “sự thúc đẩy dân chủ” của Mỹ từ lâu đã cho rằng nhiều chỗ nơi thí nghiệm dân chủ đã được thử trong vài thập kỷ vừa qua là không hợp tự nhiên với hình thức chính phủ đó và rằng Hoa Kỳ đã thử cấy dân chủ trên một số mảnh đất rất cằn cỗi. Căn cứ vào việc các chính phủ dân chủ đã bén rễ sâu trong những hoàn cảnh thay đổi rộng, từ Ấn Độ bần cùng đến Đông Á theo “Khổng giáo” đến Indonesia Islamic, chúng ta nên có sự khiêm tốn nào đó về sự khẳng định rằng nơi nào đất là đúng hay không đúng cho dân chủ. Thế nhưng phải là rõ, rằng các triển vọng cho dân chủ đã tốt hơn nhiều đưới sự bảo vệ của một trật tự thế giới tự do, được ủng hộ và được bảo vệ bởi một siêu cường dân chủ hay bởi một sự tập họp của các cường quốc dân chủ lớn. Ngày nay, như luôn luôn, dân chủ là một đóa hoa mong manh. Nó đòi hỏi sự ủng hộ liên tục, sự chăm sóc liên tục, và việc nhổ cỏ dại và rào dậu khỏi rừng rậm đe dọa nó cả từ bên trong và bên ngoài. Thiếu những cố gắng như vậy, rừng rậm và cỏ dại sớm muộn sẽ quay về để đòi lại đất.

ROBERT KAGAN

 

GHI CHÚ

1. Trích trong Samuel P. Huntington, The Third Wave: Democratization in the Late Twentieth Century (Norman: University of Oklahoma Press, 1991), 17.
2. Trích trong John Keane, The Life and Death of Democracy (New York: W. W. Norton, 2009), 573.
3. Huntington, Third Wave, 40.
4. Huntington, Third Wave, 21.
5. Samuel P. Huntington, “Will More Countries Become Democratic?” Political Science Quarterly 99 (Summer 1984): 193–218; trích trong Larry Diamond, The Spirit of Democracy: The Struggle to Build Free Societies Throughout the World (New York: Times Books, 2008), 10.
6. Huntington, Third Wave, 47.
7. Odd Arne Westad, The Global Cold War: Third World Interventions and the Making of Our Times (Cambridge: Cambridge University Press, 2005), 196.
8. Diamond, Spirit of Democracy, 5.
9. Huntington, Third Wave, 98.
10. Diamond, Spirit of Democracy, 13.
11. Mike Rapport, 1848: Year of Revolution (New York: Basic Books, 2009), 409.
12. A. J. P. Taylor, The Course of German History: A Survey of the Development of German History Since 1815 (1945; London: Routledge, 2001), 71.
13. Rapport, 1848, 401–402.
14. Như Huntington đã giải thích dài dòng các phát hiện của Jonathan Sunshine: “Những ảnh hưởng bên ngoài ở châu Âu trước 1830 đã cơ bản là chống dân chủ và vì thế đã chặn dân chủ hóa. Giữa 1830 và 1930 … môi trường bên ngoài đã trung lập … vì thế dân chủ hóa đã tiếp diễn ở các nước khác nhau ít nhiều với nhịp do sự phát triển kinh tế và xã hội đặt ra.” Huntington, Third Wave, 86.
15. Như Huntington đã nhận xét, “Sự thiếu vắng của Hoa Kỳ khỏi quá trình có thể đã có nghĩa là có ít chuyển đổi hơn và chuyển đổi muộn hơn sang dân chủ.” Huntington, Third Wave, 98.

Post a Comment

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*