Nguyễn Quang A
Chúng ta đã bước sang năm 2026, tôi ngóng đợi Tổng cục thống kê công bố tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2025 đạt bao nhiêu. Chưa thấy con số chính thức nào, chỉ thấy báo chính phủ [1] nói “Trong khi nhiều quốc gia chật vật chống suy thoái, kinh tế Việt Nam đã bứt phá ngoạn mục, cả năm ước đạt 8%, cao nhất trong nhiều năm qua và đưa Việt Nam vào nhóm nước tăng trưởng cao nhất thế giới; tạo nền tảng, tạo đà, tạo thế, tạo lực cho tăng trưởng 2 con số những năm tiếp theo.” Trong khi đó Tuổi trẻ [2] đưa tin sự tăng tiêu thụ điện năm 2025 chỉ là 4,9% ngược hoàn toàn với xu thế lịch sử về tăng tiêu thụ điện luôn cao khoảng 1,2-1,6 lần tăng GDP (tức tăng tiêu thụ điện phải ở mức 9-10% nếu GDP đạt 8%). Phải đợi vài ngày nữa mới có số liệu chính thức, chắc có lẽ khoảng 8,05% để đạt mục tiêu trên 8%. Lại nhớ ông Ôn Gia Bảo thủ tướng Trung Quốc đã từng nói số liệu thống kê tăng trưởng GDP của Trung Quốc thời ông không đáng tin cậy và ông thích dùng sự tăng trưởng tiêu thụ điện và các chỉ số khác để đánh giá tình hình kinh tế hơn.
Còn 18 ngày nữa Đại hội 14 của ĐCSVN sẽ khai mạc. Theo dự thảo văn kiện của đại hội là, “Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026-2030 đạt từ 10% trở lên.”
Tôi nghĩ gần 1600 đại biểu dự đại hội 14 nên cân nhắc kỹ mục tiêu tăng trưởng trong bình trên 10% này. Vội là hỏng.
Đầu tiên hãy xét lại lịch sử vài lần vội và hỏng trong quá khứ, rồi chúng ta sẽ phân tích sơ qua làm thế nào để đạt tốc độ tăng trưởng trung bình trên 10% trong 5 năm và rút ra vài bài học.
Lịch sử chính sách kinh tế Việt Nam đã trải qua vài lần nóng vội và hỏng trong 20 năm qua, chưa nói nhiều lần trước đó từ sáp nhập các tỉnh và xây dựng 200 huyện thành các pháo đài kinh tế, đến ồ ạt hợp tác hóa, đánh tư sản, chính sách “giá lương tiền” trước đổi mới. Chỉ xin nêu 2 ví dụ trong 20 năm gần đây mà hậu quả bây giờ vẫn chưa khắc phục hết.
Thứ nhất, là chủ trương thí điểm xây dựng các quả đấm thép kinh tế, các tập đoàn kinh tế nhà nước, được nêu trong văn kiện đại hội X của ĐCSVN (diễn ra từ 18 đến 25/4/2006). Tôi có viết một bài với tiêu đề “Thành lập các tập đoàn có vi phạn luật không” được Lao động đăng với tít “Có nên thành lập các tập đoàn kinh tế?” ngày 3-4-2006 và bị cắt một số chỗ bị cho là nhạy cảm. Trong vài bài sau tôi phân tích mô hình Kairetsu Nhật và Chaebol Hàn Quốc khác với tập đoàn kinh tế nhà nước ở điểm chính là: chúng là các công ty tư nhân; cơ chế bộ chủ quản là tồi với các tổng công ty nhà nước nhưng cơ chế “thủ tướng chủ quản” còn tồi hơn với các tập đoàn kinh tế nhà nước; và chúng sẽ hỏng. Đến nay ai cũng rõ rồi.
Thứ hai, là chủ trương tăng vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại theo nghị định số 141/2006/NĐ-CP do Thủ tướng Chính phủ ký ngày 22-11-2006, mà tăng vốn chủ yếu diễn ra trong hai năm 2007-2006, đến giữa 2012 tổng vốn điều lệ của 35 ngân hàng TMCP tư nhân đã tăng lên đến khoảng 8 tỷ USD, tăng 75 lần kể từ 1998 tức 40%/năm), một mức tăng khó tin (và chủ yếu tăng trong vài năm sau nghị định 141 thì tốc đọ tăng là mấy trăm phần trăm quả là không thể tưởng tượng nổi. Chủ trướng tăng vốn (về lý thuyết rất có lý đó) vẫn được giữ và tôi có bài trên Lao động cuối tuần kiến nghị “phỉa giảm vốn đăng ký của các ngân hàng” vì “Ngược với chủ trương của các nhà quản lý và ý kiến của đa số chuyên gia về việc phải tăng vốn đăng ký (điều lệ) của các ngân hàng thương mại, trước mắt tôi đề xuất phải giảm vốn đăng ký của chúng… Không thể bắt hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam làm ‘thánh Góng’.”
Vì tác động đòn bẩy của ngân hàng thương mại (có 1 đồng vốn có thể huy động cực đại 20 đồng, thường là 10-15 đồng) vốn đăg ký “không thật” sẽ làm cho đòn bẩy này có thể cao hơn rất nhiều và gây rủi ro khủng khiếp. Hệ quả đã xuất hiện từ 2011: nợ xấu tăng, lạm phát cao (20%) và đến 2015 cả chục ngân hàng thương mại cổ phần bị đánh giá là yếu và Ngân hàng Nhà nước phải kiểm soát chục ngân hàng yếu kém và buộc phải mua 3 ngân hàng với giá 0 đồng (vốn của chúng đã âm từ lâu). Có thể thấy hậu quả xảy khoảng lâu sau khi một quyết định (rất đúng về lý thuyết nhưng không sát thực tế và không chú ý đến việc nghiêm ngặt cấm vay vốn từ một ngân hàng để góp vốn vào ngân hàng khác) nên đã để lại hậu quả kinh khủng cho nền kinh tế. Và vụ án Vạn Thịnh Phát liên quan đến ngân hàng cổ phần SG (hợp nhất từ ba ngân hàng yếu kém vào năm 2012 có lẽ một phàn cũng do quyết định đó và có nguồn gốc từ 2006).
Quay lại mục tiêu tăng trưởng trung bình hơn 10% nêu trong dự thảo văn kiện đại hội 14 sẽ được thảo luận và quyết định từ 19-1 đến 25-1-2026.
Tôi nghĩ đó là mục tiêu quá cao, vì trong lịch sử Việt Nam chưa bao giờ đạt tăng trưởng 10%/năm chứ chưa nói đến tăng trưởng trung bình trên 10%/năm (xem phân tích chi tiết tại [3]).
Có ba cách chính để tăng GDP: tăng lao động; tăng vốn và tăng TFP (năng suất các nhân tố tổng hợp). Việc tăng TFP liên quan đến đổi mới công nghệ và quản lý, có tiềm năng lớn nhưng cần đầu tư vào giáo dục, đào tạo và TFP của Việt Nam tăng không được như mong đợi. Hai yếu tố khác là lãnh đạo cũng không tăng được như thời đầu đổi mới, còn tăng vốn có nguy cơ làm tăng tổng dư nợ trên GDP hiện nay (riêng dư nợ tín dụng trên 130% GDP) đã ở mức quá cao có nguy cơ gây lạm phát.
Tóm lại phải cẩn trọng với mục tiêu quá cao không thực tế, nếu nóng vội có thể không những không đạt được mục tiêu dài hạn là thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và trở thành nước có thu nhập cao, mà còn có thể gây ra các hậu quả khôn lường.
Ghi chú
[1] https://baochinhphu.vn/viet-nam-nam-2025-10-dau-an-noi-bat-102251231082124175.htm [2] https://tuoitre.vn/vi-sao-tieu-thu-dien-tang-thap-hon-gdp-20251230225016397.htm [3] https://tapchidantri.org/ha-noi-khong-voi-duoc-dau-2-tang-truong-kinh-te/