NGHỊ QUYẾT 68-NQ/TW, “DOANH NHÂN DÂN TỘC” VÀ BÀI HỌC PHÁT TRIỂN “TƯ BẢN DÂN TỘC” CỦA HUNGARY

 

Nguyễn Quang A

Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị ĐCSVN ngày 4/5/2025 [1] về phát triển kinh tế tư nhân được dư luận nhiệt liệt hoan nghênh. Nghi quyết viết “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, năng lực cạnh tranh quốc gia,…” nhằm xây dựng nền kinh “tự chủ, tự lực, tự cường gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả, đưa đất nước thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, vươn lên phát triển thịnh vượng.”  Đấy là một bước nhảy vọt về nhận thức của ĐCSVN về khu vực tư nhân, rất đáng trân trọng. Giá mà Nghị quyết bỏ chữ “một” trong câu trích trên cùng thì còn hay hơn nữa. Các điểm 2, 3 và 4 của Quan điểm chỉ đạo cũng rất đáng hoan nghênh, tuy điểm 5 của mục này có thể gây tranh cãi.

Các con số trong phần Mục tiêu của Nghị quyết có thể gây tranh cãi và cần được thảo luận thấu đáo, lẽ ra các mục tiêu nên nêu những vấn đề chính của chính sách cụ thể mà cốt lõi là: tạo môi trường pháp lý và những khuyến khích nhằm để tất cả các doanh nghiệp tư nhân: CẠNH TRANH lành mạnh ở trong nước và trên thị trường quốc tế; đổi mới sáng tạo; nâng cao trình độ quản trị; dám chấp nhận rủi ro; và nhà nước có thủ tục phá sản văn minh (vì để có một doanh nghiệp thực sự thành công thì cũng có hàng chục, hàng trăm doanh nghiệp thất bại); tuyệt đối KHÔNG CHỌN kẻ thắng qua những ưu ái, hỗ trợ [vì các chính sách hỗ trợ, ưu ái như vậy chỉ khiến các doanh nghiệp không có khả năng cạnh tranh và suy cho cùng là có hại cho đất nước (tuy phần nào có được nêu trong những phần sau của Nghị quyết nhưng chưa được rõ và nhấn mạnh); nhất là KHÔNG phải chạy theo các mục tiêu định lượng quá cụ thể như  “2 triệu doanh nghiệp;” hay “ít nhất 20 doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị toàn cầu” vừa là quá thấp và vừa vô nghĩa (tôi nghĩ bây giờ cũng có thể đã có hàng trăm doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị toàn cầu rồi, có lẽ Nghị quyết muốn nói đến doanh nghiệp lớn có tầm ảnh hưởng toàn cầu). Những chỉ tiêu cụ thể bằng con số cụ thể như trong Nghị quyết có thể vô nghĩa hoặc có thể dẫn đến những hành động “kiên quyết thực hiện” có thể dẫn đến những hậu quả xấu khôn lường.

Chắc theo tinh thần của Nghị quyết 68, Pgs. T.s Trần Đình Thiên [2], chủ trương xây dựng “doanh nghiệp dân tộc,” “doanh nhân dân tộc,” các doanh nghiệp “’đồng-kiến tạo,’ cùng với nhà nước xây dựng thể chế và cấu trúc kinh tế.” Ông hô hào “Doanh nhân dân tộc không chỉ làm giàu hợp pháp, mà còn phải sẵn sàng và dám hy sinh tài sản, công sức của mình cho sự nghiệp cạnh tranh, phát triển quốc gia, phụng sự lợi ích chung của dân tộc.”  Tôi thì e ngại những khái niệm khá tù mù, những lời kêu gọi rất “cao thượng,” nghe có vẻ tuyên truyền và rất đáng tranh cãi này.

Đó là lúc nên xem xét các bài học về những cố gắng tương tự gây tai họa của chế độ Orbán Viktor trong 16 năm qua ở Hungary. Orbán Viktor viện dẫn sự tự chủ, an ninh quốc gia, sự nâng tầm dân tộc nên cần phát triển tầng lớp “tư bản dân tộc” mạnh. Chỉ cần thay “tư bản” bằng “doanh nhân” ta thấy sự giống nhau kỳ lạ giữa từ ngữ của ông Orbán và ông Trần Đình Thiên và không chỉ từ ngữ mà có lẽ cả nội dung. Kết quả của chính sách kinh tế đó của Orbán như thế nào? Tai họa.

Chế độ và nhà nước mafia (thuật ngữ của Magyar Bálint [4]) của Orbán Viktor đã sụp đổ ngày 12-4-2026 với cuộc chiến thắng long trời lở đất của Đảng Tisza giành được hơn 2/3 số ghế trong Quốc hội Hungary. Kể từ 2010 đến 2026 một chính sách kinh tế cốt lõi của Orbán là phát triển, nâng đỡ sự nổi lên của tầng lớp “tư bản dân tộc” qua chính sách thay đổi sở hữu, mua sắm công và nhiều chính sách ưu ái khác cho các doanh nhân Hungary được ông coi là “tư bản dân tộc.” Các nhà khoa học Hungary đã nghiên cứu, phân tích chuyện này mà ví dụ điển hình là bài giảng nhậm chức của viện sĩ Viện Hàm lâm Khoa học Hungary Voszka Éva [3]. Theo bà, chính sách phát triển “tư bản dân tộc” của Orbán liên quan đến những thay đổi sở hữu mang tính chuyển đổi chế độ trong 15 năm qua tại Hungary thông qua những cuộc “quốc hữu hóa,” “tư nhân hóa,” dẫn đến một hình thức tư nhân hóa mới hết sức lãng phí và tạo ra một hình thức sở hữu mới được bà gọi là sở hữu chính trị, làm méo mó thị trường, tạo ra độc quyền, độc quyền nhóm trên các thị trường khác, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế nói chung của Hungary. Và việc “sửa sai” các chính sách này là có thể làm được nhưng với những chi phí đau đớn (một dự luật của Tisza để “sửa sai” như vậy sắp được Quốc hội thông qua). Bạn đọc nên bỏ thời gian đọc bài báo của viện sĩ Voszka Éva. Nói nôm na chính phủ Orbán đã chọn những kẻ thắng bằng cách ép các doanh nghiệp (nội địa hoặc liên doanh hay FDI) mà họ không ưa (nhân danh an ninh kinh tế quốc gia, chủ quyền quốc gia,..) phải bán tài sản cho nhà nước với giá thấp (hoặc các doanh nghiệp thân hữu bán với giá cao), tức là qua quốc hữu hóa, mông má chút ít qua cái gọi là tái cấu trúc, rồi lại “tư nhân hóa” bán cho các thân hữu với giá rẻ, đôi khi cho không, qua luật, các quy định rắm rối, không minh bạch; cùng với các khoản hỗ trợ về thuế, đất đai, tín dụng và nhất là mua sắm công (xây đường, đường sắt, cảng, sân bay, các công trình công cộng tốn kém như sân vận động, nhà hát,.. chiếm một phần đáng kể vốn quốc gia mà lẽ ra có thể tạo ra hiệu quả kinh tế tốt hơn nhiều nếu chi cho các công trình khác).  Các doanh nghiệp thân hữu bao gồm cả các tổ chức báo chí làm công tác tuyên truyền cho chế độ, chèn ép báo chí không thân hữu, đàn áp tự do báo chí. Kết quả là mạng lưới các doanh nghiệp được  Orbán bảo trợ giàu lên nhanh chóng, ràng buộc ngân sách mềm tràn lan trong nền kinh tế và sự phát triển kinh tế trì trệ và méo mó và chẳng doanh nghiệp thân hữu nào có khả năng cạnh tranh quốc tế cả, khiến Hungary từ một nước hậu-cộng sản trên trung bình khi gia nhập EU trở thành một trong những nước đội sổ trong số đó. Bất bình đẳng tăng cao, những vụ tham nhũng (“hợp pháp” theo luật được thông qua nhằm phát triển khu vực tư nhân Hungary) gây phẫn nộ trong xã hội, và chính những hệ quả  tồi tệ của chính sách nghe có vẻ rất hay ho và “dân tộc” đó đã khiến người dân Hungary chán ghét chế độ và đã bỏ phiếu cho Tisza (thực chất là chống Fidesz của Orbán) để lật đổ nhà nước mafia (có 2 đặc trưng cơ bản: a. Tập trung quyền lực vào tay ông trùm và mạng lưới bảo trợ chính trị của ông ta và b. làm giàu cho cá nhân và gia đình của ông trùm cũng như cho mạng lưới “doanh nhân dân tộc” được ông trùm bảo trợ’ [4]). Ông trùm ở đây là người đứng đầu đảng Fidesz, Orbán Viktor. Đảng Tisza nắm quyền từ khi chính phủ mới được thành lập ngày 12-5-2026 sau bầu cử một tháng đã đưa ra dự luật “sửa sai” chính sách kinh tế của chế độ cũ, nhưng sẽ rất tốn kém như các nhà khoa học đã cảnh báo từ 2025 [3].

Nghị quyết 68 về cơ bản là rất đúng, nhưng nếu không cẩn trọng thì việc thực hiện có thể xảy ra những hậu quả khôn lường mà bài học đau đớn trong những nỗ lực tương tự ở Hungary phải là bài học đáng xem xét.

Tôi nhớ lại, năm 1968, trong một bữa tối thân mật giữa gia đình ông Nguyễn Duy Trinh, ủy viên BCT, phó thủ tướng kiêm bộ trưởng bộ ngoại giao Việt Nam và đồng nhiệm Hungary, khi gia đình ông nghỉ tại Hungary mà tôi phiên dịch cho họ, trong nhiều chuyện trao đổi giữa hai bộ trưởng ông Trinh nói ông đã thăm công xã Đại Trại ở Trung Quốc ông bảo xã hội chủ nghĩa mà thế thì xã hội chủ nghĩa để làm gì? Và ông cũng bảo ông đã thăm Bắc Triều Tiên và không biết gọi chế độ ấy là gì? Đồng nghiệp Hungary của ông, bộ trưởng ngoại giao Péter János bảo “chúng tôi gọi chế độ đó là ‘phát xít phong kiến’ đồng chí ạ” và ông nhắc đến một câu ngạn ngữ “người thông minh học từ thiệt hại của người khác (Más kárán tanul az okos),” ông Nguyễn Duy Trinh hóm hỉnh, vui đùa đáp lại “chúng tôi còn chẳng học được từ thiệt hại của chính mình” và mọi người phá lên cười vui vẻ. Mong rằng các lãnh đạo Việt Nam học nghiêm túc từ những nhận xét rất sắc sảo và “sự tự-phê bình” vui, hơi chua chát của một bậc tiền bối đáng kính của họ và tỏ ra thông minh để học từ sự thất bại của chế độ Orbán về phát triển khu vực tư nhân Hungary.

Ghi chú:

[1] Nghi quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-so-68-nq-tw-ve-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-119250505101309949.htm

[2] Pgs. T.s. Trần Đình Thiên, giải mã động lực của những doanh nghiệp lớn từ kiếm lợi ngắn hạn sang kiến tạo tương lai https://cafef.vn/pgs-ts-tran-dinh-thien-giai-ma-dong-luc-cua-nhung-doanh-nghiep-lon-chuyen-tu-kiem-loi-ngan-han-sang-kien-tao-tuong-lai-188260518221054153.chn

[3] Voszka Éva, Những thay đổi chủ sở hữu mang tính chuyển đổi chế độ tại Hungary, 2010–2025, bài báo nhậm chức, Közgazdasági Szemle, LXXII . évf., 2025. november (tr. 1057–1081), bản tiếng Việt có thể lấy về tại https://tapchidantri.org/download/so-huu-chinh-tri/

[4] Magyar Bálint, Madlovics Bálint Giải phẫu các chế độ hậu-cộng sản (The Anatomy of post-communist regimes), CEU Press, 2020 và cuốn Một tóm tắt về các chế độ hậu-cộng sản.

 

 

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *